Giải thưởng văn học quốc tế, cơ hội xuất khẩu văn chương Việt - Bùi Việt Thắng

Tin vui đến với văn giới Việt Nam: Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều (Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Việt  Nam, Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Á-Phi), vừa nhận Giải thưởng văn học Quốc tế CHANGWON KC dành cho nhà văn có độ tuổi từ 50 đến 65 với những đóng góp cho văn học Hàn Quốc và quốc tế. Cùng lúc nhà văn Nguyễn Ngọc/Tư nhận Giải thưởng LITERATURPREIS 2018 (Giải thưởng do LITPROM – Hiệp hội quảng bá văn học châu Á, châu Phi và Mỹ Latin ở Frankfurt, CHLB Đức, bình chọn). Có thể nói dự án có tính chiến lược Quảng bá văn học/văn hóa Việt Nam ra thế giới của Hội Nhà văn Việt Nam đang tiến từng bước thận trọng và vững chắc. Kết quả từ ít đến nhiều, từ trước mắt đến lâu dài. Đây chính là một “kênh” đặc trưng để thực hiện giao lưu văn hóa trong thời đại hội nhập và phát triển.

 

GIAO LƯU VĂN HÓA BẰNG VĂN HỌC

Quy luật tiếp biến văn hóa đã chỉ ra lợi thế của văn học trong quá trình tiếp nhận, chuyển hóa lẫn nhau giữa những nền văn hóa có bản sắc, giá trị ngang nhau. Việt Nam đã từng tiếp biến các nền văn hóa lớn thông qua văn học (Nga, Pháp, Anh, Đức, Trung Quốc, Mỹ,...). Văn học là “nhịp cầu” nối những bến bờ vốn khác nhau về thể chế, văn hóa, ngôn ngữ, phong tục tập quán. Trong phạm trù “Văn hóa Việt” thì, văn học nếu không nói là tất cả, là một bộ phận lớn, quan trọng. Đã nhiều năm thế giới biết đến văn học Việt, ngôn ngữ Việt thông qua nghệ thuật ngôn từ (những tác giả cổ điển Nguyễn Trãi, Nguyễn Du, Hồ Xuân Hương, Cao Bá Quát, Nguyễn Khuyến, Hồ Chí Minh,..,.). Tương tự chúng ta biết đến văn hóa Nga qua văn học “thế kỷ vàng” (XIX) như A. Pu-skin, I. Lec-man-tôp, L. Tôn-xtôi, F. Đôt-xtôi-ep-xki, A. Sê-khôp và “thế kỷ bạc” (XX) với 5 nhà văn Giải Nobel văn học như I. Bu-nhin, M. Sô-lô-khôp, B. Pa-xtec-nac, A. Xôn-ze-nhít- xin, I. Brôt-xki.

Những năm gần đây Hội Nhà văn Việt Nam đẩy mạnh chương trình có tính chiến lược quảng bá văn học Việt Nam ra thế giới. Kết quả đáng lạc quan. Những Giải thưởng văn học ASEAN, Mêkông đã như một đường dẫn để văn học Việt Nam đi ra biển lớn nhân loại. Có thể nói, giải thưởng mà nhà thơ Nguyễn Quang Thiều và nhà văn Nguyễn Ngọc Tư vừa nhận được như là một “đợt sóng thứ hai” dâng cao vị thế của văn học Việt Nam trên trường quốc tế. Trước đây có ai đó quá ưu thời mẫn thế mà ngậm ngùi về “sự cô đơn của tiếng Việt và văn học Việt” trong một thế giới phẳng bao la và...rợn ngợp (!?). Không phải không có lý. Nhưng khi thoát khỏi mặc cảm cố hữu đó, chúng ta sẽ nhìn thấy con đường sáng phía trước của văn chương Việt trong biển lón nhân loại. Văn học, chính là tấm gương soi lớn, trong suốt để thế giới nhìn thấu vào tâm hồn, bản tính Việt vốn khoan dung, bác ái, luôn “lấy đại nghĩa thắng hung tàn”, “lấy chí nhân thay cường bạo”.

 

BẢN SẮC VIỆT NAM TRONG TẤM GƯƠNG NHÂN LOẠI

Văn học nói gì để thế giới nhận ra thấu đáo nhất về tâm hồn Việt? Trong  cuộc chiến tranh mười nghìn ngày (1945-1975) chúng ta phải gồng mình lên vì “Chúng muốn đốt ta thành tro bụi/Ta hóa vàng nhân phẩm lương tâm/ Chúng muốn ta bán mình ô nhục/ Ta làm sen thơm ngát giữa đầm” (Tố Hữu – Việt Nam máu và hoa). Trong thời khói lửa đạn bom, mỗi người Việt Nam đều “Yêu và căm hai đợt sóng ào ào/Vỗ trong lòng dội mãi tới trăng sao” (Xuân Diệu – Những đêm hành quân). Nhà thơ Nguyễn Quang Thiều với những tác phẩm (in bằng tiếng Anh và tiếng Hàn) như Bài hát về cố hương, Những người đàn bà gánh nước, Linh hồn con bò, Sự chuyển động của cái đẹp đã hiến tặng bạn bè quốc tế một “mâm cỗ tinh thần” trang trọng, phong phú, tinh tế. Nhà thơ ra đi từ “Làng Chùa” (một vùng thôn quê nổi tiếng của không gian “Hà Tây quê lụa”, tên một nhạc phẩm nổi tiếng của nhạc sỹ Nhật Lai), nên dẫu có đi khắp bốn phương trời cũng chẳng thể nào quên mùi rơm rạ, mùi khói bếp, mùi lúa lên đòng thơm hương sữa non; lại càng không quên cái cổng làng quanh năm mát rượi vì bóng tre ôm trùm, tiếng nghé ọ, tiếng gà đúng ngọ, tiếng vắt trâu trên ruộng,... Và nhớ hơn nữa con sông chảy qua làng nặng trĩu phù sa tươi tốt, màu mỡ làm nên bờ xuôi ruộng mật. Nhớ cảnh và nhớ người. Nhớ những người đàn bà ra sông gánh nước (họ là bà, là mẹ, là chị, là em, là bạn gái, là người yêu thưở hoa niên,...). Làng Chùa chứa đầy những “linh hồn” người, đã đành, còn có cả những “linh hồn con bò”. Thế giới hậu công nghiệp, thế giới số hóa đang nhốt con người vào trong các “boong-ke” (nhà kính, bê tông, phòng điều hòa máy lạnh,...). Con người đang mất tự do ngay chính nơi mình đứng - họ bị tách rời khỏi tự nhiên (do bị đồ vật hóa, số hóa, tự động hóa). Nhu cầu trở về với tự nhiên là khát vọng nung nấu, cháy bỏng của con người hiện đại  khi nguy cơ nghèo nàn về đời sống tinh thần, khi mải miết chạy theo vật chất, tiện nghi kỹ thuật đang rình rập thường trực. Nghĩa là con người đang có nhu cầu tìm về cội rễ. Thơ Nguyễn Quang Thiều đã “điểm huyệt” đúng đời sống hiện đại.  Thức ăn vật chất đến một mức nào đó thì bão hòa. Nhưng thức ăn tinh thần thì luôn luôn thiếu thốn với con người. Tương tự, người ta đang hướng tới du lịch - sinh thái, du lịch - văn hóa, du lịch - tâm linh hơn là những “sex tour”. Có thể nói, Nguyễn Quang Thiều đã mang Nàng Thơ của mình bay ra với thế giới, giúp thế giới biết đến một đất nước còn rất nghèo nhưng đang nỗ lực hết sức mình để gìn giữ hồn làng, hồn quê, hồn Việt.

Nhưng nếu độc giả (cả trong và ngoài nước) đọc văn Nguyễn Ngọc Tư sẽ cảm nhận được điều gì nói về bản sắc Việt? Tập truyện Cánh đồng bất tận (2005, Giải thưởng Hội Nhà văn Việt Nam 2006; Giải thưởng ASEAN, 2008) đã mang về vinh quang cho cây bút nữ vùng Đất Mũi Cà Mau – miền đất tận cùng Tổ quốc, nơi như thi sỹ Xuân Diệu đã viết “Mũi Cà Mau: mầm đất tươi non/ Mấy trăm đời lấn luôn ra biển/ Phù sa vạn dặm tới đây tuôn/ Lắng lại, và chân người bước đến/ Tổ quốc tôi như một con tàu/ Mũi thuyền ta đó - mũi Cà Mau” (Mũi Cà Mau, 1960). Sinh ra và lớn lên trong “thung thổ văn hóa Nam Bộ” nên Nguyễn Ngọc Tư đã ngấm từ nhỏ cái chất mênh mang, phóng khoáng, hào hiệp của cảnh và người một vùng đất mới đầy ắp phù sa màu mỡ, tràn trề sông nước. Nhưng, khi trưởng thành, khi ngòi bút đã có đủ năng lực thấu thị, thì cảm xúc và nhiệt hứng của nhà văn lại thiên về nỗi lo âu, khắc khoải bởi thiên nhiên đang bị chính con người trú ngụ trong đó tàn phá. Biểu tượng cánh đồng trong “Cánh đồng bất tận” không còn là những mênh mông thẳng cánh cò bay “mãi không thấy bờ” , hoặc giả những vụ mùa vàng liên tiếp bội thu,... Cũng có thể đổ lỗi cho “biến đổi khí hậu”. Nhưng thiên tai không bằng nhân tai. Có lẽ, trước khi viết Cánh đồng bất tận, Nguyễn Ngọc Tư cũng đã có nhiều ngày tháng bán lưng cho trời, bán mặt cho đất trên những thửa ruộng đang hao mòn dần màu mỡ phù sa của quê mình nên hiểu rõ cánh đồng bất tận mình đang đứng là bất tận nỗi gì “Những cánh đồng trở thành đô thị; những cánh đồng ngoa ngoắt thay đổi vị của nước, từ ngọt sang mặn chát; những cánh đồng vắng bóng người, và lúa rày mọc hoang nhớ đau nhớ đớn bàn chân xưa nghẽn trong bùn quánh giờ đang vất vơ kiếm sống ở thị thành. Những cánh đồng đó, đã hất hủi cây lúa (và gián tiếp từ chối đàn vịt). Đất dưới chân chúng tôi bị thu hẹp dần. Nhưng ngay từ đầu, chúng tôi đã tự làm quẩn chân mình, vì không thể quay lại những cánh đồng cũ (với người quen cũ). Tôi đã từng trở ngược về những nơi đó theo cách của tôi, bằng mường tượng. Tôi đã gặp nhiều đứa trẻ tên Hận, tên Thù mang khuôn mặt rắp tâm của cha tôi, với đôi mắt sâu và chiếc mũi thẳng. Những đứa trẻ nhàu úa, cộc cằn, cắm cẳn, chỉ tiếng chửi thề là tươi rói, nhảy ra xoi xói ở đầu môi. Và hình ảnh đó thật đến nỗi, tôi bất giác lùi lại vì một đứa đang nhìn trân trối  vào mình, ngạo nghễ “Tao không thích học, chừng nào lớn tao đi chăn vịt”. Theo quan điểm “Phê bình sinh thái” (còn gọi là nghiên cứu xanh - green studies) thì phương pháp này tập trung “nghiên cứu văn học gắn liền với chủ đề môi trường” và “thiên về nhân chủng học và đặt bình diện xã hội làm trung tâm” (Phê bình sinh thái là gì?, Nxb Hội Nhà văn, 2017, tr. 6-7). Như vậy là, tự phát hay tự giác thì Nguyễn Ngọc Tư cũng đã đi vào “tâm bão” của những vấn đề đặt ra cho văn học hiện đại thế giới và Việt Nam. Không ngẫu nhiên mà Nguyễn Huy Thiệp đã viết “Muối của rừng”, “Thương nhớ đồng quê” – những tác phẩm ngắn nhưng có sức chứa tư tưởng lớn – về mối thảm họa khi con người tấn công thiên nhiên, xa rời thiên nhiên vốn được coi như một BÀ MẸ VĨ ĐẠI của nhân loại. Cánh đồng (trong truyện Cánh đồng bất tận), Nước (trong tiểu thuyết Sông) là những biểu tượng văn học quan trọng trong sáng tác của Nguyễn Ngọc Tư. Tài năng của nhà văn chính là thể hiện những dự cảm, tiên đoán đầy lo âu và trách nhiệm về sự băng hoại trong quan hệ giữa con người và thiên nhiên. Viết như thế là tiến dần đến “mẫu số chung” của văn học/ văn hóa thế giới.

 

XUẤT KHẨU VĂN HỌC NHƯ LÀ CHIẾN LƯỢC QUẢNG BÁ VĂN  HÓA VIỆT NAM  RA THẾ GIỚI

Đã nhiều năm nay, Hội Nhà văn Việt Nam tích cực thực hiện chương trình  giới thiệu văn học dân tộc ra thế giới như là một chiến lược quảng bá văn học/ văn hóa Việt. Đã có một “đợt sóng thứ nhất”  khi tác phẩm của các nhà văn Ma Văn Kháng, Bùi Ngọc Tấn, Nguyễn Khắc Trường, Dương Hướng, Lê Minh Khuê, Bảo Ninh, Trần Đăng Khoa, Hồ Anh Thái,... được dịch và giới thiệu ở  nước ngoài qua nhiều ngôn ngữ khác nhau. Nay tiếp đến “đợt sóng thứ hai” khi các nhà văn Nguyễn Quang Thiều, Nguyễn Ngọc Tư nhận các Giải thưởng văn học Quốc tế danh giá. Cái câu “hữu xạ tự nhiên hương” chúng ta quen dùng xem ra không còn thích hợp và không hiệu quả trong một thế giới phẳng. Ngày trước ta chỉ quen “mẹ hát con khen hay”. Nay không thể như thế. Xây dựng hình ảnh Việt Nam trên trường quốc tế có nhiều cách. Bằng văn học là phương cách hữu hiệu và ít tốn kém nhất (!?). Nhưng đây là một bài toán khó. Đã đành cần xã hội hóa các hoạt động tinh thần, sáng tạo. Nhưng văn hóa luôn là “tay phanh” (trong khi kinh tế là “tay ga”). Không thể đem tư duy “nghiệp dư” để quảng bá văn học như một thành tố quan trọng của văn hóa dân tộc. Cần thiết có sự hỗ trợ lớn và lâu dài của Nhà nước (về chính sách, về tài chính, về đánh giá), sự cộng đồng trách nhiệm của các tổ chức văn hóa, trong đó có Hội Nhà văn Việt Nam. Ít nhất trong khu vực châu Á, chúng ta đã chứng kiến Hàn Quốc có chiến lược quảng bá văn hóa Hàn ra thế giới một cách điêu luyện đến mức nào. Nói đó là một “cuộc xâm lăng văn hóa” thì có lẽ quá lời. Nhưng nói đó là sức mạnh “mềm” để mê dụ đồng loại thì đúng. Vì sao phim  Hàn, nhạc Hàn lại hút hồn lớp trẻ Việt trong khi chúng ta không thiếu nhân tài? Đúng như cổ nhân dạy “tiên trách kỷ hậu trách nhân”. Riêng Nguyễn Quang Thiều, ngoài tư cách là một nhà văn, độc giả còn thấy ông như là một “đại sứ văn hóa” miệt mài truyền bá văn học/ văn hóa Việt ra thế giới và ngược lại (trong vai trò là Phó Chủ tịch Hội Nhà văn Á – Phi). Nếu chúng ta có thêm nhiều người nhiệt huyết và có kinh nghiệm như thế thì, tin tưởng trong tương lai gần, văn học/ văn hóa Việt Nam sẽ được bạn bè quốc tế biết đến nhiều hơn nữa. Văn chương Việt Nam sẽ in đậm nét hơn nữa trên bản đồ văn chương thế giới.

Hà Nội, tháng 9-2018

B.V.T

(Nguồn báo Quân đội nhân dân cuối tuần ngày 2-8-2018)

Cô Gấm - Truyện ngắn của Y Mùi

Trong cuộc mưu sinh, con người ta lắm lúc phải dầm mình trong một môi trường đầy rẫy phức tạp. Ở đó, cái tốt và cái xấu, điều thiện và điều ác... đều có cơ hội nảy sinh. Mọi thứ rồi sẽ qua đi, chỉ có lòng tốt và những cử chỉ đẹp khiến người trong cuộc chẳng thể nào quên.

VHP trân trọng giới thiệu truyện ngắn “Cô Gấm” của nhà văn Y Mùi.


Nhà văn Y Mùi

1.

Trong cuộc đời này, tôi đã từng mắc nợ nhiều người và cô Gấm là một người trong số đó. Tôi rất nhớ lời mẹ dạy: “Nợ đời khó trả dễ vay” từ khi tôi còn là cô gái mười bốn, mười lăm tuổi. Và tôi càng cố gắng tránh để không mắc nợ thì tôi lại càng mắc nợ nhiều hơn. Trong hành trình vượt qua bể khổ cuộc đời, xem ra từ lúc chưa ý thức được tôi đã bắt đầu mắc nợ. Tôi mắc nợ mọi người, khi thì vô tình, khi thì có chủ ý mà mắc nợ. Cô Gấm là người vừa do vô tình vừa là cố ý mà tôi mang nợ.

Món nợ cô Gấm là món nợ tôi không dễ gì trả; bởi vì có muốn trả thì cũng chưa biết tìm người ở đâu bây giờ? Cô tên gì tôi không biết, chỉ biết mọi người gọi cô theo tên của đứa con gái đầu lòng. Tôi cũng gọi: cô Gấm. Ấy là tôi gọi thế chứ thực ra cô Gấm chỉ hơn tôi khoảng mươi, mười hai tuổi. Vì trông cô lam lũ và cách ăn mặc thì cũ kỹ, rất quê nên lúc đầu tôi không đoán đúng tuổi của cô.

Thời bao cấp, giống như số đông công chức nhà nước, kinh tế gia đình tôi cực kỳ khó khăn. Mỗi người, mỗi nhà đều tìm cách tạo thu nhập thêm ngoài lương để tồn tại qua ngày. Rất nhiều người nhà nước, nhìn bề ngoài trông cái quần, tấm áo trên người thì ai cũng có vẻ no lành, nhưng bên trong cái vỏ lành lặn ấy ẩn giấu một tinh thần rệu rã, một thể lực đói chất, kém nạp những thứ nghèo dinh dưỡng cả về số lượng nên thành đói kinh niên. Nhà nhà cố gắng. Người người cố gắng. Không ai muốn cho người khác biết mình khốn đốn, bần cùng. Tôi cũng không nằm ngoài số đó.

Tôi đã giấu giếm mọi người việc phải kiếm sống thêm bằng nghề bán quà vặt sau giờ hành chính. Hằng ngày cứ hết giờ làm ở cơ quan là tôi tất tưởi về nhà, thay bộ đồ công chức lượt là ra, mặc bộ đồng phục nhà binh màu cỏ úa xin được của một cô em họ đang tại ngũ; bỏ cái nón mới hằng ngày vẫn đội đến công sở lại nhà, đội cái nón cũ kỹ, lá nón đã ố vàng và mốc thếch; bê rổ hoa quả và cái mẹt ra chợ gần nhà để bán. Sau khi thử thay đổi mặt hàng vài ba lần tôi quyết định bán mấy thứ hoa quả rẻ tiền; mùa nào thứ ấy, chủ yếu là: bưởi, chuối, ổi, khế, nhót, mít, hồng xiêm...

Những ngày đầu ra chợ, tôi bị xua đuổi đến khốn khổ. Rổ hàng chỉ lèo tèo cắp nách không có thứ gì đáng tiền nhưng không ai cho tôi đặt xuống gần chỗ họ ngồi; từ các bà bán cùng một mặt hàng đến mấy bà bán những thứ chẳng liên quan gì với quà vặt. Người xua đuổi tôi quyết liệt nhất là ông quản lý chợ. Tôi đoán ông ấy chỉ cỡ đàn anh, hơn tôi năm, bảy tuổi là kịch kim. Không trông thấy tôi thì thôi, chứ cứ hễ thấy bóng tôi là ông ta lao đến, vênh cái mặt quắt, quầy quậy xua như thể tôi đang mang cái mầm bệnh nguy hiểm dễ lây lan ra cộng đồng vậy. Tôi rất muốn cãi nhau với ông ta nhưng vì miếng cơm nên vẫn phải nén lòng nỉ non: “Cháu là người nhà nước. Nhà ở gần đây. Hết giờ làm bán lặt vặt kiếm thêm chút tiền nuôi con. Chú thông cảm”.  Ông quản lý chợ giảng giải: “Chị là người nhà nước thì có nhà nước lo. Chợ là chỗ kinh doanh của tiểu thương. Chị ra đây buôn bán là chị cướp cơm của người ta đấy. Biết không?”. Ông ta nói quá chuẩn, quá đúng. Tôi chỉ còn cách chui lủi để tránh chạm mặt với người quản lý chợ khó tính. Nhưng hình như càng cố tránh mặt thì càng hay gặp. Thế nào rồi ông ta cũng vẫn thấy tôi. Lại đuổi. Lại xin xỏ. Lại nài nỉ. Chỉ đến chiều muộn, khi chợ đã vãn người mua, người bán ông quản lý chợ mới hết hứng thú với việc đuổi tôi.

Mãi sau này tôi mới hiểu lý do vì sao người bảo vệ chợ lại ghét mình như thế. Mọi người bảo bất kỳ ai muốn buôn bán ở chợ ấy đều phải biết đến ông. Tôi thì ngây thơ, cứ tưởng chợ là chỗ công cộng, chỗ của chung mọi người, ai muốn bán mua thì đến thôi. Ông ấy thể hiện như vậy là muốn hỏi khéo người mới bước chân vào lãnh địa do ông cai quản: “Mi không biết ta là ai à?”.

2.

Hồi mới ra chợ bán hàng, chiều nào tôi cũng phải bê cái rổ khi thì mấy quả bưởi, khi thì vài tấm mía lượn ngược, lượn xuôi, lúc đầu chợ, lúc cuối chợ. Mỏi chân muốn ngồi ghé xuống đâu đó một lúc cũng khó vì không ai cho tôi đặt cái rổ bên cạnh chỗ họ ngồi. Tất nhiên, tôi cũng đủ ý tứ cố tránh xa mấy bà bán hàng quà giống với mình. Mấy bà bán trầu vỏ, chả liên quan gì cũng không muốn cho tôi lại gần. Thế mới kỳ lạ!

Nhưng người kỳ lạ hơn tất cả là cô Gấm. Cô ngồi ở đầu chợ, ngay dưới dốc bên trong cổng chính của chợ. Hàng của cô Gấm cũng là quà vặt rẻ tiền nhưng đa dạng về chủng loại và nhiều về số lượng; trong đó có mấy thứ y chang những thứ có trong mẹt hàng của tôi. Mỗi khi đi qua khu vực cô Gấm ngồi tôi đều cố đi thật nhanh và trong đầu thường trực mấy câu giãi bày: “Cháu chỉ bán thêm sau giờ làm việc. Cháu sang phía bên kia ngay đây”… để đối phó nếu bị cô ấy đuổi. Chuẩn bị sẵn sàng tâm lý đối phó như thế, nhưng sau một tuần liền cắp rổ quà đi qua, đi lại chỗ cô Gấm ngồi tôi vẫn chưa một lần bị xua đuổi. Thế chả là rất lạ sao?! Nhưng như thế vẫn chưa phải là chuyện lạ nhất.

Một chiều, khi tôi đang đi nhanh qua cổng chợ thì cô Gấm vẫy tôi lại. Tôi lễ phép chào xã giao và định nói câu đã thuộc lòng: “Cháu chỉ bán thêm sau giờ làm việc. Cháu sang phía bên kia ngay đây ạ”. Nhưng tôi còn chưa kịp tiếp tục cất lời thì đã nghe cô Gấm nói:

- Cứ ngồi cạnh tôi này mà bán. Đi lại như thế mỏi chân lắm.

Miệng nói tay làm, cô thu gọn hai mẹt hàng của cô sát lại gần với nhau. Tôi quá bất ngờ, không thể tin vào tai của mình nữa. Tôi rón rén bước lại, sung sướng đến luống cuống giẫm cả chân lên cạp cái mẹt hàng của cô làm lật tung lũ ổi và quả thị bày trong mẹt, bắn tóe ra đất. Tôi sợ quá mặc dù cô Gấm xua xua tay bảo không sao. Cô nhặt nhanh lũ quả rơi ra đất rồi đón cái rổ của tôi đặt xuống chỗ cô vừa thu xếp cho. Tôi lí nhí trong miệng:

- Cháu vô ý quá.

Tôi cảm ơn nhưng cô Gấm đâu có nghe gì. Cô giúp tôi nhặt mấy loại quả còm cõi, héo hắt trong rổ bày lên cái mẹt lúc nào tôi cũng mang theo nhưng ít có cơ hội bày hàng ra. Vừa làm cô vừa nói:

- Từ mai cứ ra đây ngồi với tôi. Khi mua hàng thì chọn kỹ đừng lấy những quả để lâu rồi hoặc sâu bọ đã ăn. Lấy phải hàng xấu không bán được là lỗ vốn đấy.

Tôi cảm động quá. Khóe mắt cay cay như bị vương khói bếp. Một người hoàn toàn xa lạ, bán đúng những thứ giống như tôi đang cắp bên nách đã nhường chỗ cho tôi ngồi sát ngay bên cạnh. Như thế chẳng phải cô Gấm đã tự nguyện sẻ chia niêu cơm của nhà mình cho tôi?! Làm sao mà không cảm động cơ chứ!

Sau này thì tôi biết cô Gấm đã ngồi ở chợ ấy mấy năm liền đến độ cả chợ quen mặt nhớ tên. So với những người buôn bán cùng mặt hàng tại chợ này thì cô Gấm là người ít vốn, nhưng có duyên và nhiều lộc nên không phải mời chào, chèo kéo ai mà khách vẫn mua hàng của cô. Hàng cất buôn ngày nào cô bán hết trong ngày ấy luôn. Mấy bà bán cùng mặt hàng, vốn lớn hơn nhiều so với cô Gấm đôi khi cũng phải phát ghen.

Việc cô Gấm cho tôi bày mẹt hàng ngay bên cạnh đã làm một bà bán hàng thuốc nam và lá xông, tên Hoa ngồi trong gian chợ có mái che nhìn thẳng ra cổng chợ tức thay cho mấy đứa con của cô Gấm. Cái vụ ghen ăn ghét ở của bà lá xông vô duyên, vô dạng ấy là sau này do chính cô Gấm kể lại.

Một tối, khi bốn mẹ con ăn cơm xong đứa con gái đầu của cô Gấm bảo mẹ:

- Bác Hoa nói mẹ dốt quá. Buôn bán cùng mặt hàng mà lại cho người ta ngồi ngay bên cạnh thế thì bán cho ai nữa? Thương người thì khó vào thân đấy mẹ ạ.

- Thương người thì khó vào thân. Là con nói hay bác Hoa? - Cô Gấm hỏi lại cô con gái.

- Là con. Mẹ cứ nhường nhịn cả người dưng như thế thì bao giờ nhà mình mới khá lên được? - Con Gấm, đứa con gái đầu lòng, tuổi mười lăm, mười sáu đã trải qua bao sóng gió gia đình cùng người mẹ nghèo khó lam lũ cự lại mẹ.

- Con còn bé chưa hiểu hết việc đời đâu, cứ lo việc bán hàng của con cho tốt đi. Mẹ làm gì mẹ biết, con không phải lo.

Vẫn buổi chợ hôm cô Gấm kể về chuyện đứa con gái và bà Hoa lá xông không vui khi cô cho tôi ngồi bán hàng bên cạnh, cô giải thích vì sao cô nhường chỗ cho tôi. Cô bảo người nhà nước mà phải phơi mặt ra giữa thanh thiên bạch nhật buôn bán vặt thì cũng là cực chẳng đã; thấy tôi bê cái mẹt hàng vốn liếng không đáng mươi đồng bạc mà đi đến đâu cũng bị đuổi nên mủi lòng. Cô nói:

-   Mới đi buôn, đi bán mà ai cũng đuổi như đuổi tà thế thì bán cho ai. Mà buôn bán có được hay không còn do cái duyên của mình. Đâu phải tại người ngồi bên cạnh…

Tôi hơi ngỡ ngàng về những suy nghĩ, những nhận định của cô Gấm, một tiểu thương, buôn bán quà rẻ tiền và chắc là ít học lắm. Tôi thầm cảm ơn ông Trời đã phù hộ để tôi gặp được một người là ma cũ ở cái chợ ấy, đã không những không bắt nạt tôi mà còn thương cảm, nâng đỡ khi tôi phải làm cái việc chưa từng được học bao giờ. Cô đã quá tốt với tôi, dù trước đó tôi và cô chả quen biết, thân sơ gì.

Từ hôm được cô Gấm vẫy lại và cho chỗ ngồi, ngày ngày đến cơ quan tôi chỉ mong nhanh hết tám tiếng vàng ngọc để nhanh ra chợ bán hàng. Chiều chiều, cứ hết giờ làm là tôi lại vội vã trở về nhà, vội vã thay đồ, rồi vội vã đi kiếm sống cạnh cô Gấm. Bản chất vấn đề là tôi cấu véo một tiểu thương nghèo là cô Gấm mỗi buổi chiều, sau khi hết những giờ oai ở cơ quan nhà nước.

Mỗi khi có khách hỏi mua gì, nếu là thứ mà mẹt của tôi đang có thì cô nhường cho tôi bán. Cô nói nhỏ: “Mời đi”. Tôi còn chưa kịp phản ứng thì cô chỉ vào cái mẹt của tôi nói với khách: “Đấy, nhặt ở đó đi”. Thiệt tình, lúc đầu tôi cũng thấy ngại quá nhưng không có lựa chọn khác nên tôi đành lòng vậy, cầm lòng vậy mà nhận sự giúp đỡ như là nhận phần cơm cô Gấm bớt ăn mỗi bữa sẻ cho mình. Thấy tôi cứ cắm đầu xuống mẹt hàng cô Gấm mắng: “Phải ngẩng mặt lên, thấy ai qua còn chào mời chứ. Cháu cứ cắm mặt xuống thế bán cho ai. Cái nón nữa, đội làm gì? Chiều tối rồi, nắng đâu nữa mà phải đội xùm xụp như thế?”...

Cô đâu có biết tôi không dám ngẩng mặt lên là vì sợ gặp người quen. Hồi đó buôn bán là chuyện xấu lắm. Đặc biệt, công chức viên chức nhà nước thì càng phải tránh xa những chuyện mua đi bán lại kiếm lời. Tôi lại là công chức xịn hẳn hoi. Cơ quan gần nhà. Nhà gần chợ. Chợ gần nơi chồng tôi hay lui tới, giao du. Người quen, người cùng cơ quan có thể bắt gặp bất cứ lúc nào. Điều tôi sợ nhất là gặp bạn bè, người quen của chồng. Chỉ một thời gian ngắn thì việc tôi ngồi bán hoa quả ở chợ ấy cũng không giấu được bạn bè, người quen nữa. Tôi lại càng phải cúi mặt thấp hơn để tránh gặp người quen. Mà không hiểu sao tôi cũng ít thấy họ lắm. Đôi khi tình cờ nhìn thấy ai đó quen biết thì tôi cũng giả bộ làm ngơ và họ hình như cũng làm ra vẻ không thấy tôi. Tôi thầm cảm ơn vì họ đã không lại gần, không nhận người quen.

3.

Quả thật, tôi ít thấy có người buôn bán lam lũ, phơi nắng phơi mưa suốt ngày mà đẹp được như cô Gấm. Càng gần cô, tôi càng thấy cô đẹp hơn. Ngồi phơi mặt ở cổng chợ suốt từ sáng sớm đến tối mịt không còn rõ mặt người, thế mà làn da của cô Gấm vẫn trắng nõn nà và mịn màng y như da con gái. Suốt ngày phơi mặt giữa trời đất, nhưng bụi bặm nơi cổng chợ cùng sương gió, nắng mưa không hề ảnh hưởng gì đến nước da của cô. Thời con gái chắc cô Gấm đẹp lắm. Tôi chả dám hỏi gì nhiều về cô và cũng không muốn ai hỏi thăm gì về mình. Kể cả tên tôi cũng mãi gần nửa năm ngồi chợ, nhận sự giúp đỡ của cô mỗi ngày, thì tôi mới miễn cưỡng nói cho cô biết. Còn tôi làm gì, ở đâu thì cô Gấm cũng không hỏi. Cô Gấm chẳng tò mò, bận tâm xem đã nhường cơm sẻ áo cho một người có danh tính, thân thế ra sao. Cô chỉ thấy thương hại một người yếm thế, là tôi bị đông đảo người hắt hủi giữa những bon chen nơi góc chợ để kiếm ăn, thế là nhường nhịn. Vậy, có lạ không chứ!

Tôi láng máng biết cô Gấm một mình nuôi ba người con: hai gái, một trai. Cô con gái đầu như đã kể trên, bán dầu hỏa dạo. Hai đứa em của cái Gấm tuy còn nhỏ tuổi, đứa nọ hơn đứa kia chỉ vài tuổi nhưng đã phải bỏ học theo mẹ lên thành phố này và mỗi đứa mỗi nghề, cũng buôn bán vặt, rong ruổi đến tận các ngõ ngách, phố nhỏ.

Ban ngày, thỉnh thoảng cả ba chị em chỉ rẽ qua chỗ mẹ bán hàng chốc lát. Đôi khi chúng về chỗ cô Gấm để cùng mẹ ăn một bữa trưa tạm là bún, bánh linh tinh. Bữa tối mới là bữa chính của cả nhà khi bốn mẹ con trở về căn phòng trọ đơn sơ, vừa đủ che mưa, che nắng do người lấn chiếm đất công nhảy dù dựng tạm, thuộc một “xóm liều” cách chợ, như cô nói: “chỉ mấy bước chân”. Ấy là cô Gấm tính theo đường chim bay, chứ từ chợ về chỗ mẹ con cô Gấm thuê trọ phải khoảng hơn một cây số.

Thỉnh thoảng, cô Gấm cần đi đâu đó phải ăn mặc tươm tất thì cô mang theo quần áo, để vào khu tập thể gần chợ thay nhờ cho khỏi mất thời gian về nhà trọ. Khi cô Gấm thay bộ đồ tươm tất, khác bộ thường ngày cô mặc ngồi bán hàng, tôi thấy cô đẹp lên rất nhiều. Trông cô đằm thắm, tươi tắn hẳn lên. Chẳng son phấn, không chải đầu bới tóc gì khác lạ nhưng cô cứ như người khác chứ không phải người phụ nữ ngồi bên hai mẹt hàng hoa quả nơi cổng chợ mà mọi người vẫn thấy hàng ngày.

Một lần ngưỡng mộ vẻ đẹp nền nã của người phụ nữ trung niên sau khi phục trang, tôi nói:

- Trông cô đẹp lắm, cô ơi!

- Hồng nhan thì bạc phận, cháu ạ. - Cô Gấm xác nhận lời tôi khen cô đẹp. Tuy đã rất thân gần, nhưng tôi không dám hỏi vì sao cô lại nói đến câu bạc phận.

- Người đẹp sao hay khổ thế nhỉ? - Tôi giả đò vu vơ.

Cô Gấm là người tỉnh lẻ. Cô đưa ba đứa con rời quê hương, từ một tỉnh vùng chiêm trũng về Hà Nội kiếm sống không hẳn do miền quê ấy không còn kế sinh nhai cho mẹ con cô. Rời quê đã hai năm nhưng ruộng đất, nhà cửa, ao vườn của cô Gấm vẫn nguyên xi.  Cô bảo sẽ lại về quê sống khi mục đích của cô đạt được. Hà Nội chỉ là chỗ tá túc tạm thời của bốn mẹ con cô mà thôi.

Mục tiêu cuộc di rời gia đình từ quê ra Hà Nội của cô Gấm là để đi tìm người chồng lạc bước ngã vào chốn mê đã hơn bốn năm rồi. Cô bảo cô không cần gì nhưng các con cô thì cần có bố. Đặc biệt, thằng con trai thì càng lớn càng cần có người cha bên cạnh.

- Con gái thì còn dạy được, chứ thằng con trai không có bố ở bên, thì nó sẽ lớn lên thế nào đây? - Cô thở dài khi nói về chuyện nhà.

- Cô có biết hiện giờ chú ấy ở đâu không? - Tôi hỏi.

- Đang ở thành phố này đấy nhưng chính xác ở chỗ nào thì chưa tìm ra. Mấy đứa trẻ đi bán hàng rong như thế cũng là mục đích kiếm tìm cha của chúng.

Hà Nội rộng thế. Người đông thế. Phố phường đâu phải làng xã mà có thể hỏi thăm. Tứ xứ tụ về, ở trong cùng một ngõ ngách nhưng nhà nào biết nhà đó. Có khi toàn người đi thuê trọ ở cùng một con hẻm. Chả ai quan tâm, quen thân với ai. Ở quê, hỏi thăm lại là chuyện khác, đến đầu xã có thể hỏi thăm về người ở cuối xã cũng dễ dàng. Ở phố, tuy nhà liền kề, san sát, ra trông thấy nhau vào trông thấy nhau, nhẵn mặt đấy nhưng có khi cũng không biết tên nhau, chả chào nhau bao giờ là chuyện bình thường. Các con của cô Gấm tìm làm sao được người cha bạc tình nếu ông ta cố mai danh ẩn tích nơi phố xá người chen người thế này. Nghĩ thì nghĩ vậy, nhưng tôi chẳng dám nói ra vì sợ làm cô buồn.

4.

Tôi kiếm ăn quẩn bên cô Gấm được gần hai năm thì phải bỏ việc nhà nước đi làm ăn xa, vì lời lãi từ cái mẹt hoa quả bán sắp vào cuối mỗi buổi chiều không thể nuôi nổi cả nhà khi có thêm nhân khẩu. Tôi lẳng lặng rời Hà Nội, ra đi như chạy trốn nên chẳng chia tay với ai, kể cả cô Gấm.

Một số năm lang bạt xứ người tôi kiếm được đủ tiền mua một căn nhà đúng nghĩa là nhà ở một con phố nhỏ của thành phố. Về nước, ổn định được chỗ ở tôi lại rơi vào tình cảnh thất nghiệp dài dài vì cơ quan cũ nhất định không nhận tôi trở lại làm việc.

Dịp mới về nước, tôi đã có ý định đi tìm cô Gấm. Một lần tôi đến ngôi chợ nơi tôi làm tiểu thương bất đắc dĩ một thời gian, nơi được cô Gấm cưu mang chia sẻ. Chợ ấy đã khác xưa. Người buôn bán cũng đã khác xưa. Mấy bà bán trầu vỏ cũng không còn là người cũ. Những hàng hoa quả rẻ tiền đã thay bằng các sạp hàng hoa quả nhập ngoại và hoa quả đắt tiền. Chủ các quầy hàng hoa quả cũng lạ hoắc. Không tìm thấy cô Gấm đâu nữa. Cả bà Hoa lá xông cũng không còn thấy ở chợ ấy nữa. Tôi hỏi thăm đến mươi người nhưng không ai biết bà Gấm là ai nên nản lòng không đi tìm tiếp.

Thời gian cứ thế cuốn tôi vào cuộc mưu sinh với cơm gạo áo tiền sau khi bỏ việc nhà nước đi cứu nhà đến nỗi hết cơ hội quay lại làm người nhà nước. Dù cho đến thời điểm quay về Việt Nam, tôi vẫn là người nhà nước một trăm phần trăm trên cả danh nghĩa, lẫn thực tế, nhưng tôi đã bị những người nhân danh tổ chức của cơ quan nhà nước thẳng thừng từ chối. Những người có quyền sinh, quyền sát ấy bảo rằng không còn chỗ cho tôi; rằng quy hoạch nhân sự trong kế hoạch năm năm tới của cơ quan đã có rồi, nhận lại tôi thì không biết xếp vào đâu. Mặc dù khi ra trường, tôi và các bạn cùng lứa từng được gọi là những hạt giống quý của đất nước nhưng tôi trở thành một người thừa, một người dôi dư trong công cuộc cải tổ giảm biên lúc ấy. Liệu tôi còn có thể xin việc ở đâu nữa đây? Mải bươn chải mưu sinh vô tổ chức, tôi cũng quên luôn việc đi tìm cô Gấm.

Tôi mất liên lạc với cô Gấm hơn hai mươi năm. Đôi lúc tôi định đánh liều đưa chuyện của mình lên chuyên mục “Như chưa hề có cuộc chia ly” trên Tivi để nhờ tìm mẹ con cô Gấm nhưng chưa dám vì chuyện của mình quá nhỏ nhoi so với bao nhiêu chuyện quan trọng khác còn chưa được quan tâm. Nhà đài có đâu thời gian để quan tâm đến tất thảy mọi người và những vụn vặt quá riêng tư.

Đôi khi ký ức lại đưa tôi về căn nhà cũ, về cái túp lều bên mương nước thải. Nhớ lại những ngày ngồi lê ở cổng ngôi chợ ấy, lăn lóc bán mấy quả bưởi bổ, chia nhỏ đến một phần tư quả vẫn bị ế đến héo khô; những tấm mía cắt khúc để đến rệu đỏ cả hai đầu vẫn không bán được vẫn chẳng dám ăn... Người đầu tiên tôi nhớ đến là cô Gấm. Không biết cô Gấm đã đạt được mục đích của chuyến di rời cả nhà lên thành phố này chưa? Không biết cuộc sống của cô Gấm sau đó có khá lên không? Cô có còn ở thành phố này hay đã về quê như dự định ban đầu? Bây giờ các con của cô Gấm thế nào rồi?

Tôi chẳng có cách nào để tìm lại cô Gấm vì quê cô ở đâu tôi cũng không biết. Tên cô là gì tôi cũng không biết. Tôi đích thị là một người quá vô tâm và vô ơn. Tôi chỉ còn biết tự trách mình.

Tôi kể lại câu chuyện này để tự sám hối vì đã ở bên kia dốc cuộc đời rồi mà chưa trả được nợ cho những người đã nhường cơm sẻ áo, ghé vai đỡ tôi cái gánh đời quá nặng.

Y.M.

Trưởng ty họ Hoàng - Đoàn Ngọc Hà

Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Trưởng ty họ Hoàng” của nhà văn Đoàn Ngọc Hà in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước - NXB Hội Nhà văn 2014.

Nhà văn Đoàn Ngọc Hà

 

HỌ VÀ TÊN KHAI SINH: NGUYỄN TẾ NHỊ. SINH NGÀY 11 THÁNG 12 NĂM 1945. QUÊ QUÁN: LIÊM TÚC, THANH LIÊM, HÀ NAM. DÂN TỘC: KINH. HIỆN THƯỜNG TRÚ TẠI: LIÊM TÚC, THANH LIÊM, HÀ NAM. DẠY HỌC NĂM 1965. VIẾT VĂN TỪ 1967 VỚI MỘT SỐ TRUYỆN NGẮN ĐẦU TAY. TỪ NĂM 1968 BẮT ĐẦU NGHIÊN CỨU VĂN HOÁ LIỄU ĐÔI. TỪ NĂM 1970 TẬP TRUNG SÁNG TÁC. TỪ NĂM 1985 BẮT ĐẦU VIẾT TIỂU THUYẾT. TỪNG LÀ HIỆU TRƯỞNG TRƯỜNG TRUNG HỌC ĐINH CÔNG TRÁNG, THANH LIÊM. TỔNG BIÊN TẬP TẠP CHÍ SÔNG CHÂU, HỘI VĂN HỌC NGHỆ THUẬT HÀ NAM.

 

TRƯỞNG TY HỌ HOÀNG


Rõ ràng có tiếng nói gầm gừ bên trong. Vài ba người lới phới rẽ tấm mành với dáng điệu khép nép, sợ sệt. Rồi thì bên ngoài rào rạt tiếng xối xả của mấy cái máy chữ tuôn đầy phòng trực. Tôi dán mắt vào mành trúc cứ thỉnh thoảng lại uyển chuyển, lắc lư. Cụ ở trong ấy. Bây giờ rẽ cái mành trúc kia thì gặp Cụ. Chỉ nghĩ thế, tôi đã run. Bình thường một anh giáo viên tiểu tốt như tôi gặp Cụ đã khó, huống chi tôi là kẻ có tội đem đầu đến kêu cụ. Lê Long dặn phải nhè lúc Cụ có vẻ rỗi việc thì vào. Cụ đã từng mắng một anh trưởng phòng ở dưới huyện lên: "Chứ cậu đi bắt lợn đấy à? Cút!" Bởi anh này đi xồng xộc, một ống quần xắn, tay cầm cái dây chun. Cụ thép lắm. Cánh cán bộ phòng ban làm không được việc, cụ gọi lên mắng. Nịnh cụ mà không khéo là ăn đòn. Có một anh ở phòng giáo dục huyện được cụ về thăm phong trào. Lúc ngủ trưa, anh này thấy đôi giày của cụ đã cũ lắm bèn sai người đi mua đôi giày mới toanh thế vào chỗ đôi giày cũ. Lúc ngủ dậy, cụ quẳng đôi giày mới đi và mắng: "Làm lãnh đạo cậu phải nghĩ đến cái lớn, cớ sao nghĩ đến đôi giày bẩn của tớ, hả? Hèn đến thế cơ à?" Chết cha! Mình cứ thập thò thế này có khác nào đem mồi đến miệng hổ. Hay ta về chỗ trọ, để mai vậy, hôm nay cụ đang bận, cụ gầm lên thì vừa tủi hổ vừa không được việc. Lộ trình lên gặp cụ, tôi đã "tập kết" đôi gà sống thiến cùng 10 kí nếp hương, một tút Tam Đảo. Định bụng, thuận buồm xuôi gió, tôi sẽ "boóng" vào chỗ cụ "đặt mình" ở dưới nhà bếp rồi cứ thế lẻn ra cửa sau. Kế sách ấy, Lê Long bày cho tôi để vừa tránh được cơn sấm sét của cụ vừa ngon việc. Phải, Long dặn phải nhè lúc cụ rỗi rãi mà hôm nay cụ bận, thôi về! Tôi đang định nhón chân thì chợt thấy cái mành trúc rì rào rẽ ra. Cụ! Sợ đến nỗi, tôi không dám nhìn mặt, chỉ để mắt vào đôi Xăng-đan nâu và hai ống quần gụ lất phất của cụ. Lúc ngước lên, cụ đã mất hút vào phòng trực.

Chắc cụ không để ý đến tôi? Nhưng nếu cụ ra lại vẫn thấy tôi đứng đấy, tất cụ sẽ hỏi. Cụ hỏi mà tôi ngập ngọng thì cụ tống cổ luôn chứ còn gì. Sao mình lại dại dột và ê chệ thế nhỉ? Nghĩ vậy, tôi vội lẻn vào khóm trúc Quân tử ngoài sân Ty Giáo dục, chờ. Khóm trúc gần cái bể cá vàng có núi non bộ lù lù nên cụ khó nhìn thấy. Đúng như dự đoán, cụ ra thật. Cụ đi với một chuyên viên Bộ kính trắng. Ngày ấy, chuyên viên Bộ hay đóng com lê màu tàn thuốc, lắp kính trắng, xỏ Giôn màu gan gà. Tôi nghe rõ một câu cụ nói rất sỗ kèm một câu tiếng Tây um ủm. Anh chuyên viên ngửa kính ra cười. Cụ thạo Pháp ngữ như một chính khách Pari. Lúc nào cáu hoặc hứng chí thì cụ bịch tiếng Pháp. Thôi chết! Mình đi vào ngày cụ tiếp Bộ sang trọng thế kia mà mình lôi cái việc cực kỳ bẩn thỉu và ô uế lên kêu cụ? Hỏng bét? Làm thế nào bây giờ? Lê Long bảo nếu gặp được cụ, trời phù mà cụ nói cho một câu thì cậu cũng đỡ tội. Nhược bằng, cụ cứ khép thì cậu toi? Hồ sơ tội trạng của cậu, người ta đã đệ sang Ty rồi. Việc này can hệ lắm. Một ông thày mà phạm vào cái tội nhơ nhuốc ấy thì đi đứt. Trời ơi? Đây là cái cửa cuối cùng mất rồi. Nghe Long, tôi đánh liều theo cái kiểu "thí mạng" chứ cũng không hy vọng lắm. Cách tuần, tôi lên chỗ ông chú họ bên Công ti Giết mổ hỏi xin việc. Mỗi ngày, ông giết cỡ trăm con lợn bán phiếu cung cấp. Nghe xong, ông lắc đầu bảo: "Hết sạch việc! Chỉ còn việc này. Mỗi ngày, anh rửa cho tôi 17 bàn mổ, mỗi bàn mổ chừng dăm tạ cứt. Anh lấy cứt đem bán bán cũng kiếm được bữa gạo!" Vậy, tôi phải cầu cứu đến Long. Với tôi, Long là bạn cùng ra trường một ngày rồi cùng dạy. Trong đám bạn đồng khoá, Long rất giỏi khoa "thiết lập uy tín". Một lần có Ty về kiểm tra phong trào "hai tốt" trong điều kiện chiến tranh ác liệt, Long đánh trống báo động với tình huống "máy bay Mỹ đánh phá trong khu vực". Ty cũng phải chui hầm dự giờ, lấm như ma chôn, ma vùi nhưng vẫn phải nức nở khen tinh thần chiến thắng đế quốc Mỹ cực kỳ quả cảm của Long. Sau lần ấy, Lê Long có "trát" phong cấp tập lên hiệu trưởng. Ở chức hiệu trưởng, Lê Long lại lập chiến công mới về bài học "Ứng dụng nuôi cá bột trong sản xuất nông nghiệp". Cái tài của Lê Long là sự nhạy bén, lắng nghe xem xã hội có phong trào gì thì tìm cách đáp ứng phong trào ấy một cách sáng tạo, mới mẻ đến giật mình. Anh lại có cái đức "Không thèm nhìn ngó đến chất lượng học trò" nhưng tốt nghiệp năm nào cũng quá ngưỡng "trăm phần trăm". Chưa hết! Anh còn là một ông Chánh chủ khảo có hạng, một vị Chủ tịch hội đồng thi cực kỳ nghiêm túc và mẫn cán hơn cả viên cảnh sát Giave. Anh được tôn vinh là "hình mẫu qui chế", "Vua qui chế".

Đáng tiếc, có một lần, chỉ một lần thôi, anh suýt bị kỷ luật thi cử nhưng vì những chiến công chói loà, người ta ngơ đi cho. Tỉnh đang "tuý" anh lắm. Anh sẽ được thăng Phó Ty. Chỉ còn chờ ngày Tỉnh hiệp y là anh sẽ bước lên đài lãnh đạo, rung rinh áo mũ. Lê Long! Ối trời, Lê Long của tôi, hai thằng từng nằm cùng giường, gãi ghẻ cho nhau, cùng nuôi mộng một thuở. Hình như trong giáo giới người ta nói về anh nhiều quá. Người ta bảo anh là một thứ con rối, một thứ hề giáo dục. Tôi chỉ giữ quan hệ vừa phải với anh và cam phận làm anh giáo quèn mỗi khi anh bảo: "Mày đơn giản lắm? Mày đơ lắm? Tao thấy chừng ấy năm mà mày vẫn không "lột xác" được tí nào!". Ừ tôi "đơ"! Ừ tôi, "đơ"! Tôi đi đong gạo thiếu còn bị con mụ cửa hàng mắng xa xả vào mặt nữa là!... Và tôi hay khóc nữa. Hễ nhục là tôi khóc. Hình như còn chút thương hại tôi nên khi tôi bị tai nạn, anh chỉ lối cho mà chạy tội.

Thình lình, tôi giật thót và bàng hoàng đến ngơ ngác. Cụ đã đứng ngay trước mặt tôi, chỉ còn cách một ngành núi non bộ chìa ra lấp ló. Lúc nãy, cụ đi với một chuyên viên Bộ, bây giờ cụ đi với một người đứng tuổi, cao gày thắt xanh tuy to bản, cứ nói xong một câu lại liếm mép. Qua đối đáp, tôi đoán anh này ở bên Tỉnh, có thể là một thư ký vụ, hay một nhân viên tổ chức đắc lực cho các vị lãnh đạo...

- Cái gì? - Tiếng cụ - Hứ! Các cậu tham mưu cho lãnh đạo thì các cậu phải chú ý cái Mental trí tuệ nhé. Thằng Pháp coi trọng Mental lắm. Các cậu định đưa cái thằng "đánh số báo danh bằng quả cật lợn" lên ngôi đấy phỏng?

- Thưa anh! Báo cáo anh! Chúng tôi thấy cũng nên thể tất cho một sơ xuất nhỏ để sử dụng một tài năng?

- Merci! Merci![1]...

- Vâng? thế chứ ạ!

Tài năng? Tài năng? Cái kiểu tài năng con buôn mercantile ấy hả ông? Xin lỗi đi nhé! Này ông! Ngành tớ, tớ biết. Không ít anh hèn. Hôm nọ có một anh ở Nam Phong mang lên cho tớ một bẹ chuối tây để xin chuyển trường! Sao mà nó hèn thế? Cũng không ít anh đổ đốn...

- Vâng! Thưa anh đúng quá! Chúng tôi đệ trình cấp trên duyệt y đối tượng này cũng bởi đối tượng có tư tưởng tiên phong chống tiêu cực rất tốt. Cực kỳ nghiêm túc. Một ông "Vua qui chế"! Một tấm gương sáng!

- Gương sáng? Thôi đi! Sao mà lố bịch thế? Tôi chưa trị tội thằng này vì nó bố láo đưa cái vụ "giáo viên hiếp học trò trong hầm trú ẩn" ra công luận để bôi xấu ngành! Một ông thày hiếp 3 học trò trong khi trú tránh máy bay! Trời đất! Thượng đế cũng phải bật cười!

- Thưa anh!

- Cái gì? Cái gì?...

Hình như cụ hậm hực và muốn chấm dứt cuộc chuyện. Cụ đang sắp nóng? Tôi nghe cụ thở mạnh và nhổ nước bọt phì phì. Tôi thun lại như một con sâu. Quả tình lúc ấy, tôi muốn lịm đi để chết. Tôi không quen với sự cứu rỗi bất thường. Chưa hề chạm tới ánh sáng tinh tuý của sự siêu phàm. Cái gì cứu con người? Mộng! Chỉ mộng mị mà thôi. Làm gì có thật. Giời hỡi! Tôi lang mang bay trong một cái gì rất êm dịu. Vị Trưởng Ty kia vừa nói những gì? Cái âm thanh bỗ bã chảy thành những giọt sao lay đọng tôi. Hiện hình một là trán đỏ. Hai con mắt sáng đựng trong vòng mí nhiều nếp. Áo cộc tay gụ. Ống quần gụ. Cánh chúng tôi lên lớp giảng đến cạn hơi. Ở bếp ký túc xá, những cử nhân hạng nhai lá su hào luộc thay cơm. Học trò thời ấy hiền như cá chậu. Khô khát tất cả. Chỉ còn quả tim chứa nguồn suối tri thức chảy miết. Giảng mệt thì đứng tựa lưng vào tường. Đói thì ăn lá su hào. Cái lá trán đỏ! Cái lá trán đỏ? Chúng tôi nhìn cả vào cái lá trán đỏ. Khuất phục và tin cậy. Cụ xuống xe. Lất quất đi. Chắp tay ra sau hông. Cụ đi lại, xối Đông, xối Tây, xối kim cổ trong những túp văn phòng nhỏ. Cụ nói giáo dục như một Thày Cả truyền đạo. Khoa chính luận, pha trò và giễu nhại của cụ phải vào bậc Thánh. Nghe rung hồn. Nghe hớp hồn. Nghe siêu hồn. Cụ hách. Mắng mỏ giáo viên như một Lãnh chúa. Cụ ghét nhất cái thói báo cáo lếu láo giả dối. Cụ trọng thực chất và trí tuệ. Còn nhớ, cụ xuất hiện, đám trí thức chạy như gà. Trong các nghị trường, cụ chỉ mặt "sát hạch" bất cứ anh nào. Vô phúc, anh nào nói chuyện riêng, cụ gọi đứng lên "gọt" rõ đau hoặc đuổi thẳng cổ ra hành lang.

Bây giờ thì tâm trí tôi ù ù cạc cạc không biết cụ nói những gì nữa không khi cái trán lá đỏ của cụ vẫn bay lên như một trái bóng màu. Mặt trời sớm, chiếc bánh kem sữa nhóng nhánh. Không gian nhung. Rách từ kẽ đá non bộ, một đoàn cá vàng...

Rít lên trong mớ nhung lụa bị xé rách, tiếng nổ. Khu trường đung đưa như một cái võng ụp lửa. Không còn nhớ những gì ngoài đám học trò nữ ghì siết lấy thày trong bóng tối. Căn hầm chữ A chìm nghỉm trong lòng đất như một quả trứng đen, lúc lắc, bục vỡ. Lách, cố đưa hai cánh tay gầy bấu víu vào một điểm tựa để nhoài khỏi đám thi thể bùng nhung kên khóc. Húc vào kèo hầm đau nhói, tôi đã xoã rộng cái tấm thân còm nhõm của mình che cho đám trò bạt vía và kiệt sức, chỉ còn thấy tóc quấn và những mảnh rách áo quần. Mãi đến lúc căn hầm bật lên, tôi hiểu mình đã "vô lễ" lẩn vào đám trò nữ bớt bạt và hoảng loạn đến gần như trần truồng. Câu hỏi không phải là cái chết mà là thời gian đã đọng ở căn hầm gần cả tiếng đồng hồ. Tại sao? Tại sao? Tôi đã không còn đủ sức biện minh cho mình khi đám trò nữ lơ ngơ mất tinh thần hoặc bị bơm thổi trước những cật vấn nhằm minh triết cho một ngẫu sự đầy tính nhạy cảm và cả sự tò mò. Rằng thì, tôi cần nói rõ sự "che chở" ấy có chút ẩn tà của nhà sư không bao giờ ăn thịt chó nhưng lại chép miệng bảo mùi giềng thơm quá! Rằng thì sự quanh co sẽ đẩy mức án đến khởi tố, hầu toà và vào ngục. Rằng thì dư luận không tha thứ trước khi pháp luật ra tay. Rằng thì hãy im đi và biết điều thú tội để người ta ém kỹ trong ngành, không cần đến luật sư và tố tụng nhày nhụa. Rằng thì. Rằng thì... Cuối cùng, tôi bị đẩy đến nỗi oan khuất câm lặng, chỉ có trời mới cứu được. Hỡi ơi, cái nghề ông thày còn bao nhiêu cái "bí sử", oan trái mà mấy ai đã biết?

Vậy bây giờ tôi mới rõ. Lê Long! Lê Long! Chính Lê Long là một ẩn sự, một bí sự, một tà sự, là tác nhân cho câu chuyện bẩn thỉu. Anh ta cần dìm chết tôi trong khi anh có đặc quyền của kẻ mạnh. Cái gót chân Axin của Lê Long tôi quá rõ. Bởi tôi, kẻ duy nhất có thể bóc mẽ Long trong bóng tối huyền vi của tội phạm.

Chuyện. Vào quá nửa đêm của một ngày sắp bước vào kỳ thi, ông "Vua qui chế", vị đương kim Chủ tịch Hội đồng thi Lê Long chợt tỉnh ngủ bởi tiếng rầm rì, lục cục ở khu nhà bếp. Biết rồi, họ đang làm gì. Thành lệ, mỗi kỳ thi, ở đâu cũng vậy, hội phụ huynh sốt sắng biếu các thày con lợn. Cái quan trọng là cũng giờ này thế nào anh hiệu phó sở tại cũng gọi ban lãnh đạo xuống làm một chầu thưởng thức bát tiết canh ngon, cỗ lòng nóng sốt. Nhưng đêm nay, cái trường này chỉ thấy rì rầm là sao nhỉ? Vị "vua qui chế" thử dạo một vòng ngoài hiên. Rồi đánh bạo xuống khu bếp. Qua khu nhà ăn, vua thấy một cái rổ bốc khói ngùn ngụt. Đó là cái rổ lòng lợn vừa luộc. Nhìn trước, nhìn sau, đức Vua thò tay nhặt lấy hai quả cật lợn còn nóng mọng, thơm lựng. Vĩnh viễn chẳng ai biết điều ấy nếu sáng hôm sau vì bấn loạn trong lúc phân công đánh số báo danh. Vua rút nhầm từ cặp ra hai quả cật mà lúc đêm vội vã nhét vào đấy... Có một kẻ đưa tôi một tờ trình về sự vu cáo, bịa đặt chuyện một ông Chủ tịch Hội đồng thi "đánh số báo danh bằng quả cật". Khi chữ ký của tôi với chức danh thư ký hội đồng thi rơi trên trang giấy thì cũng từ đấy tôi là kẻ cần loại trừ bởi tôi, người duy nhất có thể tố lộ đầy đủ về vụ việc tởm lợm này. Long! Mi hại ta về việc ấy hay trong một lần mi nhoai nhển lên cái bằng thạc sĩ toán thì chính ta là kẻ núp trong bóng tối thê thảm của học đường để viết luận án?...

Ngửng lên, chỉ có mặt trời, cái bánh sữa lơ lửng đỏ choẹt. Cụ đã vào phòng từ lúc nào. Long bảo, cụ vẫn có thói quen giải quyết các vụ việc rối tinh bằng những bước chân ngoài non bộ. Nhút nhát, tôi bỏ lỡ một cơ hội nhưng lại khởi đầu cho một cơ hội.

Các thiên thần! Các thiên thần! Các vị vừa đậu trên vai ta và lé cho ta một khoảng sáng trong u đêm mù mịt. Mau lên! Mau lên! Về nhà trọ, tôi tu chỉnh áo quần. Phố lên đèn thì tôi đã xách cái bu gà thập thò trước cổng nhà cụ. Nghĩ đến việc cụ cho chuyển trường, tôi hãy mang bu gà gửi bên ngoài, chờ cơ may vào sau vậy.

Đèn Nê-ông chảy một vệt loang loáng vào phòng cụ. Trên một trang báo mở, cụ đứng, úp cái lá trán đỏ lúc này ánh lên như một thỏi than hồng.

- Gì thế? Đứa nào đấy?

Tôi giật thót vì đã chót vặn quả đấm cửa.

- Chào thầy?

Cụ ngửng lên:

- Vào đi? Cái gì mày? Ở đâu đấy? Sư bố anh lấy cái lược kia chải cho gọn cái đầu tổ quạ đi đã!

- Em có chút việc trình thầy!

- Dạy trường nào mày?

- Em dạy toán, trường...

- Toán hử? Toán hử? Hay đấy! Dạy toán, Thượng Đế phân công cho các anh dạy cái minh triết, tận cùng của sự hào hoa, tận cùng của một thứ tư duy diệu màu, chói lọi và thần bí, éblouir!

- Thưa thầy, vâng!

- Mấy năm rồi? Mày đừng có dạy theo "Phong trào" đấy nhé! Giáo dục là giáo dục. Giáo dục mà chạy theo "Phong trào" là hỏng bét! Cả những đứa không biết lại cứ bàn giáo dục?

Tôi không nhớ mình đã ngắt cái "ngọn triều" của cụ bằng cách nào nhưng khi nghe tôi vừa trình bày sự việc thì cụ đã gật đầu:

- Tao biết! Tao biết! Đừng nói nữa? Tao sẽ trị đứa nào làm cái loa phóng thanh để điêu toa, bêu xấu ngành về việc này. Nói chung thằng thầy ở cái xứ này tốt lắm em ạ! Chiến tranh vậy, ăn hạt mì, ỉa ra hạt mì mà vẫn dạy giỏi. Còn mày, tao phong cho mày anh hùng, bởi mày dám xả thân, dám lấy cả tấm thân như con nhái thế kia che chắn, bảo vệ cho lũ học trò, hả!

Ấp úng, tôi muốn trình bày thêm nhưng vì mừng quá hay vì tủi quá mà ngôn ngữ của tôi cứ lục bục như cám sôi trong miệng, khiến cụ phải gắt lên:

- Cái gì? Cái gì thế? Thôi cút? Cút nhé? - bỗng dưng như sực nhớ ra điều gì, cụ nhìn tôi từ đầu đến chân rồi gật khen - Mày đến cửa tao mà chẳng có quà cáp cho tao gì cả, chứng tỏ mày khí khái, được! Tốt! Tốt lắm? Về đi em! Mày không hèn một tí nào, trí thức mà hèn thì làm con vịt còn hơn phải không mày? Về đi? Về đi em?...

Tôi thoát ra cổng, chỉ còn mỗi một việc là há miệng ra thở và xách cái bu gà chạy thục mạng ra tàu.

Ngày 20 tháng 11 năm 2013

Đ.N.H

 


[1] Merci! Merci! Cám ơn! Cám ơn!

Câu chuyện một chiều thứ bảy - Trần Thanh Giao


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Câu chuyện một chiều thứ bảy” của nhà văn Trần Thanh Giao in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Tâm hồn gõ cửa mọi nhà* - Phạm Ngà

Nhắc đến nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh, chúng ta nhớ đến một nhà thơ nữ vào lớp đầu tiên thời kỳ chống Mỹ cứu nước, một số phận long đong vất vả cả về đời riêng lẫn công việc để mưu sinh và tồn tại, nhưng giàu lòng trắc ẩn, tha thiết yêu thương đối với con người, trước hết là với gia đình, bè bạn.

Đôi khi, ta khó giải mã được câu hỏi, tại sao một người phụ nữ mà cuộc đời hầu như lận đận liên tục, gặp toàn chuyện không may, rắc rối, cái điều dường như đối nghịch với thơ ca, lại là người suốt đời gắn bó với sự sáng tạo này. Hơn thế, trong thơ của tác giả lại rất hiếm hoi những nội dung hằn học, gắt gỏng, lạnh lùng nặng nề mà thông thường từ cuộc đời hay phả vào trang sách. Nguyễn Thị Hoài Thanh làm thơ theo sự thôi thúc tự thân, với hồn thơ trong trẻo cùng khát khao hướng tới cái đẹp, cái hạnh phúc của đời người. Kể từ khi cầm bút làm  thơ  đến nay, khi tuổi đời đã ngoài 80, thì nhà thơ đã có ngót 60 năm gắn bó với thơ ca. Có lẽ chính vì tác giả không mưu chước điều gì với đời và với thơ, mà lại có được thơ, bởi đó là sự tinh lọc thuần chất của tấm lòng với cuộc đời và con người. Và phải chăng, do vật vã với cuộc sống, mà nảy sinh những khát khao và giầu mơ ước. Thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh nhiều mộng ảo, thấp thoáng một nỗi buồn xa xăm cố hữu, và cả nỗi cô đơn, cho dù vẫn có họ hàng con cháu bạn bè xa gần. Thơ của tác giả thấm thía một nỗi lòng, một tâm trạng như nhà thơ tự bạch: “Chỉ mình ta bầu bạn với ta thôi”. (Cây xấu hổ). Nỗi cô đơn ấy chẳng của riêng ai. Đó không chỉ là hoàn cảnh, mà còn là môi trường tâm lý của không ít người cầm bút để thỏa sức vẫy vùng trong thế giới ảo huyền. Nhắc đến đầu tiên, không thể ai khác, đó là người mẹ. Người mẹ luôn là hình ảnh thường trực trong tâm trí nhà thơ, đến như nhìn hoa phượng rơi, cũng nhớ về người mẹ : “Hoa rơi như rơi trong mộng/ Con về mẹ đã xa rồi” (Phượng vĩ hoa rơi). Rồi đó là mùa đông: “Để mùa đông chật quá/ Mẹ về trong khói sương”. Nhà thơ có bài thơ nhớ tiếc người em trai đầy xúc động: “Chỉ một thứ chẳng ai cần mua là nước mắt”.  (Chợ Cầu Rào). Với người làm cha, làm mẹ, một trong những nỗi khổ tâm day dứt lớn là không thể bù đắp đầy đủ, để cho con chịu cảnh khó khăn thiếu thốn. Bài “Trò chuyện với con”, tác giả thổ lộ: “Không có gia tài để lại cho con/ Chỉ có nước mắt rơi ngày vui chưa trọn”; Rồi “Có những món nợ nần mẹ phải trả bằng đời” (Trò chuyện với con). Đọc những câu thơ này, có lẽ khó ai tránh khỏi nỗi nghẹn ngào xúc động. Có thể nói đây là một trong những bài thơ tiêu biểu và cảm động nhất trong đời thơ viết về tình mẹ con của tác giả. Lần lượt sinh hạ được hai người con gái, nhà thơ phải chạy vạy làm đủ công việc khác nhau, đi khắp đó đây để kiếm sống. Rồi một tai nạn xe hơi làm bà tàn phế một tay. Cho đến khi tuổi đã xế chiều, việc mưu sinh vẫn là nỗi ám ảnh không buông tha tác giả. Thế hệ con rồi đến cháu. Nhà thơ phòng bị nỗi lo khi chưa kịp làm bà : “Nếu như mẹ ra đi khi chưa kịp làm bà/ Thì đêm đêm mẹ vẫn ru những đứa cháu ra đời trong giấc mộng” (Trò chuyện với con). Đến cảnh bà cháu đi bên nhau cũng khác. Nhà thơ viết: “Tay xách làn, tay dắt cháu/ Bóng bà bóng cháu nương nhau” (Cháu Liên Chi). Thông thường chỉ nói hai bà cháu dắt tay nhau đi là đủ. Ở đây lại là bóng bà bóng cháu nương nhau. Đâu chỉ phía bà với cháu, mà chính cháu cũng “dắt” bà theo cái nghĩa bóng sâu xa. Cháu cũng là điểm tựa tinh thần cho bà. Tấm lòng của nhà thơ đâu chỉ thu hẹp trong phạm vi gia đình, mà rộng mở đến bạn bè, mọi người. Tác giả dành nhiều tâm huyết làm thơ về bạn bè, trực tiếp hoặc qua những lời đề tặng, từ nhạc sỹ Văn Cao, nhà thơ Lê Đại Thanh, nhà văn Bùi Ngọc Tấn, đến các nhà văn, nhà thơ như Duy Khán, Thi Phong, Tường Vân, Vũ Từ Trang, Nguyễn Đình Kiên, Đoàn Lê, Đoàn Tảo, Ngọc Hiền, Thúy Ngoan… Sức thuyết phục ở đây còn được đảm bảo bằng chính tình cảm và hành động mà tác giả dành cho bạn bè trong cuộc đời. Với mỗi người, nhà thơ đều có cái nhìn nắm bắt được thần thái của tác giả. Chẳng hạn, về họa sỹ Tường Vân, nhà thơ viết : “Nước mắt trộn bột màu” (Nhớ Tường Vân). Về nhà thơ Lê Đại Thanh, thì là : “Ông đi ôm khối mộng du những ngày” (Thi sỹ). Không chỉ vậy, tâm hồn ấy mở ra khắp nơi, đến mọi nhà: “Tôi đi trên đường mải miết/ Tâm hồn gõ cửa mọi nhà” (Chiều cao nguyên). Thế giới muôn phương ấy vừa mơ hồ xa xôi, vừa gần gũi cụ thể. Tác giả như luôn chờ mong ngóng đợi điều gì không rõ rệt. Chính cái chập chờn ẩn hiện đó, luôn như rượt đuổi, níu kéo, giục giã, lại tiếp năng lượng cho sáng tạo. Thì đã có lần, chính nhà thơ thốt lên: “Trong ngất ngây như có ai cuối phố đợi mình”. (Hoa phượng). Ngay đến khi trò chuyện cùng giống vật gần gũi là con mèo, nhà thơ cũng viết: “Mèo ơi! Mèo có biết/ Có người sắp đến thăm ta” (Nói với mèo). Đó còn là nói với con chim, con bò, những con vật quanh quẩn gần gũi đâu đó. Có lẽ trừ cái xấu, cái ác, còn tác giả như muốn làm bạn với tất cả. Và theo lẽ đương nhiên, tâm hồn nhà thơ phải hướng nhiều đến thế giới tự nhiên, với mây gió, nắng mưa, cây cỏ, sông nước… Nắng là hình ảnh hay được nhắc đến. Phải chăng đây cũng là hình ảnh biểu hiện cho cái gì ấm áp, niềm mong đợi. Nếu làm một sự thống kê, thì có đến vài chục lần tác giả nhắc đến tiếng “nắng” trong suốt tập thơ. “Nắng trên cành chưa nỡ rời cây/ Nắng cũ chiều hay ngày mới mưa mau” (Sinh nhật); “Nắng như thể nắng cái thời dại ngây” (Tháng ba); “Nắng mỏng như là không có thực” (Thành phố mùa thu); “Nắng vàng trong lá trong cây/ Nắng ngời trong mắt, nắng say trong hồn” (Thế rồi người đến); “Mùa đông này chật quá/ Cái nẵng vàng như mơ” (Mùa đông nhớ mẹ )… Tiếp đó là mưa “Mưa không phải tự trời rơi xuống/ Mưa như từ cây lá mưa ra” (Mưa xuân). Là gió: “Gió đi ngang qua bãi sông” (Đêm ven biển); “Gió ơi khoan hãy heo may” (Gió về)... Không khó khăn lắm để cắt nghĩa rằng, bất cứ nhà thơ nào có tâm hồn khoáng đạt, thường hay trải lòng mình với thiên nhiên bao la, rộng lớn, cũng chính là cái đẹp hiện hữu trong không gian và ngự trị trong lòng mình. Là một người đa cảm có tấm lòng rộng mở, nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh càng thể hiện đậm đà điều ấy. Thiên nhiên trở thành như một nhân vật ngoại lệ trong thơ. Sống, làm việc và làm thơ ở Hải Phòng rồi lại xa Hải Phòng, nhưng thành phố này không chỉ được nhắc đến như một kỷ niệm với những địa danh quen thuộc, mà còn in đậm trong tâm trí, cất giấu trong trái tim với những buồn vui không bao giờ phai nhạt. “Thành phố này mỗi bận đi xa tôi cất kỹ/ Trong trái tim ở chỗ nghẹn ngào” (Thành phố này); “Tôi ở Hải Phòng/ Trong cánh buồm nâu không địa chỉ” (Tôi ở Hải Phòng). Dù bất kể làm thơ về đề tài gì chăng nữa, người đọc vẫn nhận ra dấu ấn của một nhà thơ có tấm lòng ngay thật, như giãi bày, bộc bạch trực diện tâm tư, không quanh co khúc khuỷu và càng không sa vào thách đố bạn đọc. Những nỗi vất vả truân chuyên và đố kỵ trong đời, qua lăng kính chủ quan của tác giả, như bị gạn lọc đi, chỉ còn tình yêu, tấm lòng bao dung rộng mở, khoan hòa độ lượng và đi tới cái chất thơ của cuộc sống. Cũng có lần nhà thơ nói đến những giọt nước mắt, còn thì đúng hơn là nước mắt đã khô đi, se lặn vào trong, tác giả khóa chặt trong mình những cái bất ưng để dâng hiến cho đời những gì tốt lành đầy thương mến. Nhưng đã là thơ ca thì không thể dối lòng, vậy nên đôi lúc nhà thơ thốt lên những lời dồn nén của tâm trạng, thậm chí mạnh mẽ cuồng liệt: “Không có lẽ lời yêu chưa kịp ngỏ/ Đã liệm cùng trăng gió thế này ư?” (Khúc mai sau). Rồi lại nhắc đến kiếp sau, cái thuyết luân hồi phảng phất hơi hướng chốn cửa thiền: “Kiếp sau nếu được là chim/ Tình thương trang trải bay tìm nơi nơi”; “Vết thương thuở trước luân hồi còn đau” (Kiếp sau).  Ngay cả cái kiếp sau trong trí tưởng ấy, tác giả cũng không quên nhắc đến cái “Tình thương trang trải bay tìm nơi nơi”, một sự nhất quán trong tâm thức của nhà thơ. Đôi lúc, ta không khỏi ngạc nhiên sửng sốt bởi ý tưởng và cách nhìn, cách phô diễn khá bất ngờ. Cái cảnh ngộ lang bạt đây đó như bù đắp lại cho tác giả một cung cách thoáng đãng, những lời lẽ như trượt ra khỏi nếp nghĩ thông thường: ”Tôi ngả vào vòng tay lạnh  lẽo của mùa đông” (Sau hồi kẻng); “Bữa nay thu sớm lạc vào hè” (Thu sớm); “Buồm như cây quạt lớn/Thổi gió đến hồn tôi” (Hoa Động). Có khi có những ý thơ kỳ lạ:”Tôi chỉ một ánh trăng cô đơn/ Tỏa xuống vực sâu để cứu linh hồn” (Vực sâu). Bây giờ nhiều cây bút trẻ, kể cả tác giả nữ viết có khác thế hệ trước ít nhiều. Xu trào cách tân thổi một luồng gió mới trong ca. Cũng có chỗ  thành công cùng không ít sự nhầm lẫn và ngộ nhận. Khi một số người hối hả rảo bước trên cái mê lộ để tìm sự mới lạ, thì tác giả Nguyễn Thị Hoài Thanh vẫn thong thả bước trên con đường thơ quen thuộc của mình. Những lúc này cần bình tĩnh để suy nghiệm, tìm về vạch xuất phát ban đầu của thơ ca, từ đó có sự kết nối giữa những gì ưu việt của truyền thống cùng cái mới đích thực đương đại.

Là một nhà thơ nữ thuộc lớp người không nhiều của Hải Phòng, nhà thơ Nguyễn Thị Hoài Thanh lâu nay luôn được nhắc nhở trong tâm trí bạn đọc xa gần, và trước hết, của thành phố Cảng, nơi tác giả có những kỷ niệm gắn bó sâu nặng, cả niềm vui cùng nỗi buồn, dù tác giả có lúc cách biệt chốn cũ đi chăng nữa, thì tác giả vẫn khẳng định “Tôi ở Hải Phòng” như tên gọi của tập thơ.
__________
* Câu thơ trong bài “Chiều cao nguyên” của tác giả.

21/6/2018

P.N

Vết thương thuở trước luân hồi còn đau - Nguyễn Long Khánh

Trong những đỉnh cao nghệ thuật của nhân loại, thi ca là một đền đài. Nàng thơ đã làm bạn với con người, giúp họ giãi bày cảm xúc gửi trọn tâm hồn cho cuộc sống, ca ngợi, chia sẻ, động viên con người sống tốt đẹp, bao dung, thương yêu nhau hơn… Chính vì thế xã hội nào cũng có nhiều người làm thơ để giải tỏa cảm xúc tâm hồn, nói lên tình yêu của họ với cuộc đời: Họ làm thơ tặng những người thân, tặng người mình yêu, tặng Tổ quốc vĩ đại và nhân dân mình. Cho nên có những nhà thơ đích thực, nhà thơ của phong trào, nhà thơ của các câu lạc bộ xã, phường, huyện, những nhà thơ Trung ương có thẻ hội viên Hội nhà văn, có các giải thưởng cao quý và có nhiều nhà thơ địa phương nhưng ấn tượng cũng chẳng thua kém các nhà thơ Trung ương… Và đặc biệt có những nhà thơ đã hy sinh cả cuộc đời sống chết với thơ, thơ là tất cả cuộc đời, tình yêu của họ. Họ không nghĩ đến bản thân mình, thơ chính là cuộc đời của họ... đó là những thi sĩ đích thực của thi ca.

Ở Hải Phòng, tôi xin mạo muội được tôn vinh các thi sĩ: Thanh Tùng, Nguyễn Thị Hoài Thanh và mới đây nhà thơ vừa mất: Nguyễn Đình Di.

Nguyễn Thị Hoài Thanh là một thi sĩ ngay từ hồi chị còn con gái 13 tuổi đã làm thơ, 20 tuổi có bài thơ Lán Mông Giăng được đăng ở báo Văn nghệ. Nói như nhà văn Bùi Ngọc Tấn viết về chị: Thời con gái chị vốn xinh đẹp “nhất dáng nhì da” nhưng  hồng nhan bạc mệnh, đời chị truân chuyên, gian nan, có đôi lúc còn nguy hiểm vì sắc đẹp của mình: 2 lần chị kết hôn, 2 lần  ly dị. Năm chị tốt nghiệp trường Công nhân kỹ thuật Hải Phòng lúc 20 tuổi, vừa kết hôn xong chị đã li dị , sinh cháu gái đầu lòng, chị xin làm ở Cẩm Phả để xa hẳn người chồng. Chị và con gái mới sinh ở ngay nhà đề bô rộng thênh thang đã từng có người chết ở đó, suốt đêm nghe gió gầm rít trên mái nhà, nghe tiếng mưa rơi trên mái tôn, nhìn nước đổ như thác cuồn cuộn bên ngoài trạm đề bô. Ở đó chị đã viết bài thơ Lán Mông Giăng (báo Văn nghệ đăng năm 1971):

Em tôi nào ngủ được

Bởi cô đơn

Bởi hoang vắng

Bởi nhà đề bô tối om từng có người chết ở liền bên.

Bởi những tia chớp rạch trời thoắt hiện

Những khóm lau chìm trong bóng tối…

Bởi bé đau viêm họng sốt cao không ngủ được

thì cứ nằm mơ ước

Từ Cẩm Phả mẹ con chị lại về Hải Phòng sang Kiến An, Vĩnh Bảo khi lòng chị dịu lại sau cơn sốc đầu đời. Còn việc gì chị không trải qua để kiếm sống: Công nhân xi măng, thợ điện Hải Phòng điện khí, thợ điện công ty xây lắp, công nhân bóc lạc công ty xuất khẩu, công nhân máy bào cuốn xí nghiệp gỗ Trương Công Định, công nhân công ty xếp dỡ, cấp dưỡng công ty vật liệu kiến thiết, công nhân súc sạc ắc quy xí nghiệp Đánh Cá Hạ Long v.v… Và còn  bao nghề phụ: đi giao bánh rán, bánh mì, kẹo lạc, làm và bán nước mắm… Cuộc sống của chị không còn thời gian mà thở và còn chấn thương tâm hồn bởi 2 lần li dị phải nuôi con một mình… Vậy mà chị vẫn làm thơ. Thơ là người bạn đồng hành chung thủy suốt đời, là chỗ vịn mỗi khi chị sắp gục ngã, thơ là cánh buồm giúp chị lúc con thuyền vượt qua giông bão cuộc đời. Chị là thi sĩ cần lao đích thực của đời thường. Nguyễn Thị Hoài Thanh làm thơ do nhu cầu nội tâm, chị làm thơ để trang trải nỗi lòng để động viên cho những con người đau khổ dưới đáy cuộc đời, lạc quan, vươn lên mà sống. Cho nên đời chị gian lao, sóng gió, vất vả là thế nhưng thơ chị vẫn hồn nhiên, trong trẻo, ấm áp lạ thường.

Cây trụi lá mầu chiều sang sắc trắng

Hàng dậu xô làng xóm xích gần nhau.

Đọc thơ chị qua bao năm tháng ta thấy chị yêu Hải Phòng biết mấy, dù Hải Phòng với chị là những thành kiến, nhọc nhằn, đau đớn khi chị phải đấu tranh kiếm sống để tồn tại, một Hải Phòng nhiều kỷ niệm buồn hơn kỷ niệm vui. Chị có 2 bài thơ về Hải Phòng, ai đọc cũng nhớ mãi:

Bài Cầu Xi măng như một bức thư gửi người anh (Nguyễn Xuân Vinh) đang sống ở Mỹ:

Anh đã xa cầu Xi măng

Ba mươi năm từ đó

Xa con sông nước lợ

Anh có mơ một lần

Sóng ở giấc mơ anh

Cầu Xi măng ơi cầu Xi măng

Thuở bé em nhìn sang bên sông

Trời đất một vùng chim bay, chim lượn

Anh ơi! Cầu có tự bao giờ?

Mẹ bảo tuổi cầu cùng với tuổi anh.

(Hải Phòng, năm 1982)

Chỉ có một tình yêu sâu sắc trở thành máu thịt mới viết được những bài thơ như thế.

Bài thứ 2 là “Chợ Cầu Rào”, chị khóc tặng người em Nguyễn Xuân Đăng mai táng ở nghĩa trang Ninh Hải (chị đến nghĩa trang phải đi qua chợ Cầu Rào).

… Em nằm bên kia sông

Chợ Cầu Rào chiều hôm nắng tái

Qua chợ dùng dằng

Nửa muốn đi nửa toan ghé lại

Định mua quà cho em

nhưng nào biết mua chi.

Em nằm ở bên kia

Bên đây chợ lao xao kẻ mua người bán.

Chỉ một thứ chẳng ai cần bán mua

là nước mắt.

Em mặc cả với đời mang nóđi theo.

… Đến thăm em chẳng cần vội vã

Ở nơi đó bao giờ cũng có thể có em

Đến thăm em rất cần vội vã

Ở nơi đó bao giờ cũng không thể có em.

Hải Phòng, 1990

 

Vì tình yêu sâu sắc với Hải Phòng, chị đã có những bài thơ hay, gan ruột, xúc động lạ kỳ như bài Tôi ở Hải Phòng chị viết năm 1979. “Kiếp sau” gửi lại:

Kiếp sau xin được làm chim

Tình thương trong trẻo bay tàn nơi xa

Giương cung, đừng nhớ người ơi

Vết thương thuở trước, luân hồi còn đau.

Vàở tuổi gần 80, bây giờ chị ước được như câu thơ chị viết:

Giờ thì ước được như mây

Núi cao biển rộng tháng ngày thung thăng

Giờ thì ước được như trăng

Bao nhiêu tuổi vẫn ngang bằng ngọn tre.

Chúc thi sĩ không bao giờ nhớ tuổi mãi như vầng trăng đẹp nhất của đời.

 

Tháng 4.2018

N.L.K

Tương lai nào cho báo chí văn nghệ trong cuộc cách mạng công nghiệp 4.0? - Bùi Việt Thắng

Suy cho cùng chất lượng báo chí văn nghệ tùy thuộc vào văn hóa của người viết. Văn hóa của người viết cao hay thấp không tùy thuộc tuyệt đối vào thành tựu của “ÔNG 4.0”. Nếu quá kỳ vọng vào số hóa, tự động hóa, một ngày nào đó văn hóa- văn nghệ sẽ như một cánh đồng khô hạn, thiếu nước ngọt. Tức thiếu con người có trái tim, tâm hồn, tâm linh, số phận,...



QUY LUẬT NỘI TẠI CỦA VĂN HÓA - VĂN NGHỆ

Theo quan điểm duy vật biện chứng thì vật chất quyết định ý thức, tồn tại xã hội quyết định tinh thần xã hội. Văn hóa phát triển không theo chiều tỷ lệ thuận với nền tảng kinh tế xã hội. Nó có quy luật nội tại và có tính độc lập tương đối với cơ sở hạ tầng. Lịch sử nhân loại đã chứng minh quy luật này như dưới thanh thiên bạch nhật. Từ thực tiễn xã hội Việt Nam hơn 30 năm sau Đổi mới (1986), tăng trưởng kinh tế đáng lạc quan, thu nhập bình quân đầu người hơn 2000 USD/ năm (2017), là con số biết nói. Nhìn bề ngoài đời sống của người dân không còn là “phồn vinh giả tạo” như cách nói trước đây chúng ta hay chế giễu những thực thể xã hội khác nhau về thể chế chính trị. Nếu nhìn hàng trăm khu đô thị mới mọc lên, hàng triệu ô-tô đắt tiền được nhập khẩu, số tiền người Việt bỏ ra hàng năm đi du lịch và chữa bệnh nước ngoài, sắm điện thoại thông minh, uống bia rượu mất hàng tỷ đôla thì ai đó ngây thơ nghĩ rằng xã hội ta đang cực lạc, cực thịnh, văn minh và tiến bộ. Nhưng nhìn sâu vào thì sẽ thấy hoàn toàn trái ngược khi văn hóa, giáo dục, đạo đức, môi trường xuống cấp trầm trọng. Cái ác đang lên ngôi, người tử tế, việc tử tế, nhân tài hiếm hoi như lá mùa thu, như sao ban ngày, như ánh nắng mặt trời ở Bắc cực. Cách nay cả 700 năm, khi đó chắc chắn nền kinh tế Việt Nam có thể còn chưa “đỉnh” nhưng văn hiến - văn minh - văn hóa - văn chương lại ở điểm cực thịnh. Trong Đại cáo bình ngô Nguyễn Trãi đã hào sảng viết “Như nước Đại Việt ta từ trước/Vốn xưng nền văn hiến đã lâu”. Những truyền thống văn hóa, đạo đức tốt đẹp cha ông từng căn cơ xây dựng hàng nghìn năm dường như đang bị giảm thiểu trầm trọng, đáng báo động. Tham nhũng thực sự đang là nạn “nội xâm”, cùng với nguy cơ ngoại xâm rình rập khiến cho cuộc sống của hơn 90 triệu  người dân mới  chỉ có hòa bình nhưng chưa có thanh bình. Tâm thế bất an, bất ổn, bất bình, bất tín đã làm cho khuôn mặt con người Việt vốn vằng vặc  nhân ái, khoan dung bỗng trở nên lệch lạc đáng buồn. Tăng trưởng kinh tế bằng mọi cách khiến cho văn hóa, đặc biệt môi trường bị ô nhiễm nặng nề. Văn hóa không còn được coi là “tay phanh”, trong khi “tay ga” (kinh tế) thì tăng liên hồi kỳ trận. Vậy nên cuộc cách mạng 4.0 với những cơ hội và thách thức của nó có thể tạo ra nhiều hệ lụy xã hội  như nạn thất nghiệp sẽ tăng cấp số nhân khi “cách mạng số” thượng phong. Nhiều thách thức có tính toàn cầu, đặc biệt Việt Nam vốn có ưu thế đã tỏ ra thất thế với nguồn lực lao động dồi dào, trẻ và rẻ đang cần sắp xếp lại. Nhưng cần nhớ một quy luật “Văn hóa soi đường quốc dân” (Lời Hồ Chủ tịch) chứ không phải nhất nhất kinh tế soi đường quốc dân.

Trong số hơn 800 ấn phẩm báo chí hiện nay của Việt Nam, số trực diện làm văn nghệ không nhiều (chỉ khoảng 1/10), nhưng số liên quan đến văn nghệ thì chiếm đa số. Sẽ có không ít người băn khoăn về tương lai của báo chí văn nghệ trong bối cảnh cuộc cách mạng công nghiệp 4.0.


CON NGƯỜI VẪN LÀ TRUNG TÂM THẾ GIỚI

“Văn học là nhân học”, suy rộng ra “Văn hóa - văn nghệ là nhân học”. Nêu lại định đề này chắc có không ít người cho rằng “xưa rồi Diễm ơi!”. Kỹ thuật, máy móc, số hóa, tự động hóa, trí tuệ nhân tạo,...nghĩa là tất cả những thành tựu của cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 có thể đưa con người tới những hành tinh mới ngoài hệ mặt trời, có thể làm chủ đại dương bao la, có thế chinh phục Bắc cực, có thể làm nên nhiều kỳ tích khoa học - kỹ thuật chưa từng thấy, có thể tạo ra của cải dư thừa cho cả hành tinh hơn 7 tỷ người. Nhưng “thức ăn tinh thần” cho con người thì luôn luôn thiếu, cung không bao giời đủ cầu. Văn học nghệ thuật mãi mãi là một cuộc khám phá bất tận của con người về tự nhiên và chính bản thân. Lẽ sống của con người từ xưa tới nay là tự do - bình đẳng - bác ái. Con người không bao giờ thôi khao khát đạt tới chân - thiện - mỹ. Văn hóa - văn nghệ đi tìm cái đẹp trong đời sống. Phê bình đi tìm cái đẹp trong nghệ thuật - văn chương.

Sách văn nghệ đến với công chúng chậm hơn báo chí văn nghệ một nhịp, có khi hơn một. Nhưng dù chậm hay nhanh nếu xét về tiến độ, tốc độ, nhịp độ thì cả sách, cả báo chí văn nghệ đều phụng sự một nhiệm vụ cao cả - giúp con người nhận thức chân lý và tự hoàn thiện mình. Nhưng chân lý thì chỉ có thể tiệm cận. Vì thế sách, báo văn nghệ phải luôn luôn kiên trì sứ mệnh thiêng liêng của mình - thượng tôn sự thật, cái đẹp, lẽ công bằng, tình bác ái và tự do cho con người (Tự Do hai tiếng ngọt ngào).

Internet, mạng xã hội đang ngự trị trong đời sống xã hội. Thành phố thông minh, ngôi nhà thông minh, điện thoại thông minh,...không thể thay thế được trí thông minh của con người trong lĩnh vực văn hóa - văn nghệ. Bởi vì con người, dù chỉ là “cây sậy yếu đuối biết suy nghĩ” nhưng có trái tim, tâm hồn, tâm linh. Máy móc dù hiện đại đến hơn cả thời cách mạng công nghiệp 4.0 cũng bó tay trước con  người. Hai tiếng CON NGƯỜi vang lên mới tự hào làm sao. Chữ CON NGƯỜI viết hoa máy móc không thể tạo ra.

Nếu ai đó lo lắng rằng cuộc cách mạng công nghiệp 4.0 sẽ khiến cho báo chí văn nghệ rơi vào thế tụt hậu, lép vế, thúc thủ thì có lẽ chưa thấu triệt bản chất của các hoạt động tinh thần của con người, trong đó sáng tạo văn hóa - văn nghệ là hoạt động tinh thần cao nhất, tinh hoa nhất, linh diệu nhất. Không có bất kỳ cuộc cách mạng công nghiệp nào có thể tạo nên Kinh Thánh, Truyện Kiều (như là “Kinh Thánh của người Việt”, ít nhất hơn 200 năm nay). Máy phát hiện nói dối của Mỹ chế ra cách nay đã lâu tỏ ra bất lực trước con người. Con người mãi mãi là một ẩn số mà máy móc không thể nào giải mã. Chỉ có văn hóa - văn nghệ tinh hoa, đỉnh cao mới khai mở được bí mật tâm hồn con người. Báo chí văn nghệ trong thế trận chung của văn hóa, như tôi hiểu, là người lính xung kích, trinh sát viên luôn đi đầu, luôn đứng mũi chịu sào, tiếp cận đối tượng (con người và cuộc sống) nhanh nhất, trực diện, nhạy bén, nhạy cảm nhất, hiệu quả nhất. Trong hai cuộc kháng chiến chống Pháp và Mỹ cũng như hai chuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam và phía Bắc, báo chí văn nghệ đã xứng đáng đứng vào hàng ngũ nghững người lính tiên phong, đem ngòi bút chính nghĩa của mình phò chính trừ tà, phát hiện vẻ đẹp của con người trong hoàn cảnh sống khốc liệt.


VĂN HÓA CỦA NGƯỜI VIẾT  VÀ CHẤT LƯỢNG BÁO CHÍ VĂN NGHỆ

Vì sao có tình trạng báo chí văn nghệ bị coi là tụt hậu, lạc nhịp, bị công chúng quay lưng, thờ ơ? Có nhiều nguyên nhân. Trước hết, phải thẳng thắn thừa nhận rằng không ít người viết ỷ vào  internet, mạng xã hội, nên đã tự giam mình trong “tháp ngà”. Không ít người “chui sâu leo cao” vào facebook (một ngày những mấy giờ liền) nên những gì họ viết ra đều thuộc thế giới “ảo”. Nghĩa là thiếu chất sống, thiếu hơi thở đời sống. Cái phương châm “sống đã rồi hãy viết” bị coi là lạc hậu. Không ít người viết coi sáng tác văn nghệ (trong đó có văn chương) là một “trò chơi vô tăm tích”. Không ít người đắm đuối với những bộ xiêm áo mới nhập cảng (hậu hiện đại là một ví dụ). Không ít người gác trang/mục văn hóa văn nghệ trên các báo chí nhưng không được đào tạo cơ bản, thường làm tay ngang. Một tờ báo sống được là nhờ  cộng tác viên “ruột”, trung thành, đôi khi đến mức “tuẫn tiết”. Nhưng hiện nay tình trạng “ăn đong” diễn ra khó khắc phục. Báo chí văn nghệ với cơ chế hiện nay đang mất công chúng, đang mất cộng tác viên giỏi mà không có cách cứu vãn.

Còn lại không nhiều người trụ hạng với với báo chí văn nghệ. Nhưng chính họ cũng thiếu thốn đủ thứ. Cái thiếu lớn nhất là căn cốt văn hóa. Một tờ báo nọ gần đây có bài viết ca ngợi hoa hậu chuyển giới Việt Nam đăng quang trong  một cuộc thi ở Thái Lan. Tác giả bài báo là người của bản báo. Nhiều độc giả ngạc nhiên khi hoa hậu chuyển giới được phóng viên văn nghệ báo X ca tụng như là hiện tượng/thành tựu văn hóa dân tộc (?!). Viết thế nên có người hài hước mà nói rằng từ nay xin bỏ nghề phóng viên văn hóa - văn nghệ để chuyển sang làm phóng viên kinh tế (!?). Trong sự thiếu thốn căn cốt văn hóa của không ít người làm phóng viên văn hóa  - văn nghệ báo chí hiện nay là khả năng làm chủ tiếng Việt. Cái gì khó là họ nhờ “Ông GU - GỒ”. Nhưng nên nhớ “ông” này nhiều khi cũng sai (vì vẫn phải nhờ một người nào đó soạn thảo). Nếu ứng xử như một phương diện của văn hóa thì ứng xử với tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt - cũng là một thước đo văn hóa của người viết.

Suy cho cùng chất lượng báo chí văn nghệ tùy thuộc vào văn hóa của người viết. Văn hóa của người viết cao hay thấp không tùy thuộc tuyệt đối vào thành tựu của “ÔNG 4.0”. Nếu quá kỳ vọng vào số hóa, tự động hóa, một ngày nào đó văn hóa- văn nghệ sẽ như một cánh đồng khô hạn, thiếu nước ngọt. Tức thiếu con người có trái tim, tâm hồn, tâm linh, số phận,...


Hà Nội, ngày Báo chí, tháng 6-2018

B.V.T

Có một chân trời trong thơ Phạm Công Đoàn - Đinh Thường

“Nơi ấy chân trời” - Cụm từ mới thoáng nghe thôi đã khiến người ta liên tưởng tới một phạm vi rộng lớn. Lấy cụm từ ấy để đặt tên cho một tập thơ, hẳn là tác giả muốn đề cập tới một phạm vi sáng tạo có ý nghĩa lớn lao nào đấy!? Nghĩ vậy, tôi cứ miên man đi tìm lời đáp.

Đọc thêm...

Tương lai truyện ngắn - Bùi Việt Thắng

“Văn chương là nghệ thuật ngôn từ”. Định đề này không bao giờ cũ. Đọc truyện dự thi có cái cảm giác được biết thêm nhiều câu chuyện hơn là ngân rung lên trong lòng độc giả những cảm xúc tinh tế, lắng đọng, thấm thía, đôi lúc thăng hoa bởi vẻ đẹp của ngôn từ...

1. Cuộc thi truyện ngắn 2015-2017 của báo Văn nghệ như là một cú “huých” tạo đà đẩy thể loại tiến lên phía trước. Về phương diện thẩm mỹ, truyện ngắn phù hợp với cách cảm, cách thể hiện của nhà văn Việt Nam vốn nghiêng về cái đẹp có tính chất “phải khoảng” (từ dùng của nhà nghiên cứu văn hóa Trần Đình Hượu). Cái “phải khoảng” là cái đẹp ở mức độ vừa phải, xinh xắn, gọn ghẽ, năng động và linh hoạt. Tất cả thuộc tính ấy chứa đựng trong thể loại truyện ngắn (vẫn được gắn với tính “xung kích”, hay vai trò “trinh sát viên” của văn chương). Thử so sánh với cuộc thi truyện ngắn 2011-2013 của báo Văn nghệ có 2.045 truyện gửi dự thi thì ở cuộc thi này có tới 3.300 truyện gửi dự thi, đã đăng tải 493 truyện. Tác giả trẻ nhất gửi truyện dự thi đang là học sinh phổ thông, tác giả cao niên nhất đã ngoài thất thập. Sáng tác văn chương thường đi theo đồ thị hình “sin”. Một tên tuổi nào đó giả sử lóe lên ở cuộc thi trước nhưng không hẳn ở cuộc thi này vẫn lấp lánh. Lại có người “chầm chậm tới mình” đi vào cuộc thi này tự tin và vững chãi dù cho trước đó ít được biết đến. Không có gì gây ngạc nhiên cho bạn đọc thưởng lãm văn chương ngày nay, vì đó là quy luật sàng lọc, chọn lựa, tỏa sáng.

Theo dõi sát sao cuộc thi này, chúng tôi thấy những cây bút mới xuất hiện trước đây đôi khi như ánh sao băng, lóe sáng chói lói song đến cuộc thi này  có vẻ như “chuội” dần đi và chỉ còn viết theo một quán tính. Trạng thái này chủ yếu rơi vào những cây bút 7X và 8X. Có nhiều lý do khiến họ lâm vào “bĩ cực” nhưng chưa biết đến ngày “thái lai” này. Một là, họ không được tiếp thêm năng lượng (hiểu là trải nghiệm sống, trải nghiệm văn hóa), khác nào một cái xe có động cơ đổ xăng chỉ một lần thật đầy. Cứ thế rồi gắng tới đích mà không trù liệu quãng đường về sau còn xa ngái, cheo leo hơn nhiều. Hai là, sau vinh quang buổi đầu có thể họ tự bằng lòng. Tâm thế này dễ dẫn đến chủ quan, tự mãn. Tất nhiên truyện dự thi của họ vẫn đọc được. Nhưng đọc được đồng nghĩa với dậm chân tại chỗ. Mới hay giữ được sức bền của ngòi bút là rất khó khăn. Tuy nhiên điều đó không có nghĩa là trong cuộc thi này trang lứa 7X và 8X đã vắng hẳn những tên tuổi khiến chúng ta hi vọng.

Theo quan sát của chúng tôi thì, lần này có một đội hình đóng vai “tiền đạo”, theo cách nói của môn thể thao bóng đá. Tập hợp này ở thế chủ động tiến công, quyết tâm “làm bàn” của những cây bút đứng tuổi. Mỗi người một vẻ, nhưng đã có thấy rõ nội lực và nỗ lực để cán đích cuộc thi chữ nghĩa. Nhà văn Nguyễn Trường, người đạt giải Nhất, tác giả của “Quà tặng tương lai”, “Vương quốc mộng mơ”, “Mùa thanh long” – những truyện giản dị mà xúc động, vững chãi chân đế văn hóa đã kiến tạo nên câu chuyện cảm động về nhân tâm thời đại. Văn hóa chính là ứng xử. Văn hóa chính là đạo lý. Dường như thời hiện đại con người sống theo tinh thần triết lý hiện sinh, trọng cái hôm nay, dễ quên quá khứ, thậm chí đôi khi còn coi nó như một thứ “bóng đè”, hưởng thụ và ích kỷ nên dễ quên đi cái nền tảng đạo đức truyền thống.  Con người dẫu trong hoàn cảnh đời sống nào vẫn cần cái chất lãng mạn, mộng mơ, bay bổng. Nhưng mộng mơ mà không thoát ly thực tại, không trở thành mộng du, không bén rễ vào đời sống. Phải giữ lấy niềm tin như một giá trị vĩnh cửu, như là động lực sống của con gười mọi thời đại.

Hai giải Nhì thuộc về Phan Đình Minh (với các truyện “Giữ nhà”, “Bệnh tự miễn”) và Lê Vạn Quỳnh (với các truyện “Chiếc bàn của cha”, “Cuối đường khuất gió”), đều ghi nhận sự thắng lợi tuyệt đối của truyền thống hiện thực trong văn chương Việt Nam.  Như vậy rõ ràng những giải cao nhất của cuộc thi đều thuộc về những cây bút đứng tuổi, trải nghiệm sống và trải nghiệm văn hóa, và đều viết theo phong cách truyền thống - đề cao nguyên tắc “cái đẹp là sự giản dị”. Không thấy bóng dáng của các “chủ nghĩa” (hậu hiện đại chẳng hạn). Viết như một hành động vì con người trong tất cả những quanh co, chìm nổi số phận của nó. Vẫn vang lên hai tiếng CON NGƯỜI  viết hoa. Những thể nghiệm của các cây bút trẻ trong cuộc thi đa số nghiêng về kỹ thuật thuần túy nên thiếu thuyết phục ban Giám khảo và bạn đọc. Bốn giải Ba và sáu giải Khuyến khích cho thấy nền của truyện ngắn ngày càng rộng chắc.

2. Truyện ngắn đang có xu hướng dài ra, còn tiểu thuyết trái lại nghiêng về tối giản, ngắn lại. Vì thế đọc truyện ngắn dự thi lần này không còn “đọc một hơi” như cách hiểu trước đây, sự tiếp nhận truyện ngắn trở nên “trường kỳ” và không dễ dàng. Nhưng nói như thế không có nghĩa là các tác giả đã khước từ khám phá những “mô-măng” (moment) tiêu biểu, theo cách nói của nhà văn Nguyễn Thành Long là “đặt nhân vật vào tình huống”. Vẫn có, nhưng ít, ít nhưng tiêu biểu và thành công như trường hợp Lê Ngọc Minh với “Khoảnh khắc thánh minh”. Một truyện lịch sử, những tưởng đầy ắp sự kiện và nới rộng không - thời gian nghệ thuật đến vô cùng. Nhưng rất khéo léo tác giả chộp được “khoảnh khắc” khi Lê Thánh Tông, vị vua anh minh đã giác ngộ (theo ý nghĩa của giáo lý Phật), sáng suốt giải oan cho Nguyễn Trãi, mặc dù cận thần khăng khăng phải thượng tôn pháp luật, án tại hồ sơ (!?). Không ai khác, tinh thần minh triết của một vị Hoàng đế, vừa là thi nhân Lê Thánh Tông, đã khẳng định “Ức Trai lòng sáng tựa sao Khuê”. Đúng là có những phút làm nên lịch sử. Truyện của Lê Ngọc Minh dẫu chớp lấy một “khoảnh khắc” nhưng nhờ đọc nó mà độc giả có thể sống với thời gian hai chiều. Đọc Lê Ngọc Minh chúng tôi thêm một cơ sở để tin tưởng vào truyện ngắn bởi với tinh thần khiêm tốn nhất vẫn có thể nói về nền truyện ngắn dân tộc có bề dày truyền thống và sức sống hiện tại, không hề thua kém bất kỳ nền truyện ngắn danh tiếng nào trong văn chương thế giới. Nói tương lai của truyện ngắn là có cơ sở.

Lối viết “bấu chặt” vào một kiếp người thường nhận ra trong hầu hết truyện dự thi. Dường như “khoảnh khắc” không còn đủ ôm chứa đời sống của một con người. Một truyện ngắn có cái khả năng ấy thì đó là mầm mống của tiểu thuyết. Thật thú thú vị khi bạn đọc tiếp nhận những “Vương quốc mộng mơ” của Nguyễn Trường, “Cái bàn của cha” của Lê Vạn Quỳnh, “Bánh cuốn Tám Rì” của Phan Đình Minh, “Trăng Tiên Yên” của Vũ Khánh, “Hoa trải trắng sông” của Đinh Phương, “Bạc màu áo ngự” của Lê Vũ Trường Giang, “Mộng thám hoa” của Đỗ Tiến Thụy, “Kiếp hoa” của Vũ Minh Nguyệt, “Chúa hoa” của Trần Thanh Cảnh,... như những thí dụ tiêu biểu của sự tương tác thể loại.

“Văn chương là nghệ thuật ngôn từ”. Định đề này không bao giờ cũ. Đọc truyện dự thi có cái cảm giác được biết thêm nhiều câu chuyện hơn là ngân rung lên trong lòng độc giả những cảm xúc tinh tế, lắng đọng, thấm thía, đôi lúc thăng hoa bởi vẻ đẹp của ngôn từ. Thậm chí đọc xong vẫn chưa thỏa mãn vì cái nhã thú văn chương do câu chữ đem lại còn chưa dư dả, còn như mờ nhạt. Xem xét kỹ sẽ thấy tình trạng trên một phần do tác giả chưa đầu tư cho phần văn. Vẫn nặng về kể mà xem nhẹ tả. Vẫn thích lối văn suồng sã hơn là trau chuốt. Vẫn cứ ào ào lướt tới mà thiếu những khoảng lặng, dư ba. Câu chữ còn nhiều thô ráp, đôi lúc ngẫu hứng nên rơi vào tự nhiên chủ nghĩa. Một lý do khiến văn chưa hay, theo chúng tôi, là sự chiếm lĩnh tiếng mẹ đẻ - tiếng Việt - của người viết còn thiếu hụt, nửa vời. Văn hóa của nhà văn trước hết là sự ứng xử với tiếng Việt. Trước mắt quý vị là cuốn sách “Quà tặng tương lai” (Tác phẩm vào chung khảo cuộc thi truyện ngắn báo Văn nghệ 2015-2017). Rõ ràng đây là một văn phẩm đẹp cả nội dung và hình thức.

B.V.T

 

Khi nụ tầm xuân nở - Hải Đường

Mảnh đất ven sông Châu, núi Đọi thi vị, quê hương của Tam Nguyên Yên Đổ bao đời nay nuôi dưỡng những hồn thơ, tình thơ. Thơ cất lên từ dòng sông, từ cánh đồng nơi cánh cò bay lả. Thơ cất lên từ đất cầy, chiêm mùa thao thức, lũ lụt trắng đồng. Thơ cất lên từ lửa phượng sân trường, tiếng ve kêu đứt ruột. Thơ từ những mối tình nồng và cả tình tan vỡ... Cái chung của đất này là thế, mà cái riêng của tập thơ đầu tay này cũng thế.

Tác giả tập thơ Vườn xuân, chị Nguyễn Thanh Huyền trình làng những bài thơ trong veo sương sớm làng quê Bình Lục, Hà Nam thân thương của mình. Trong veo sương sớm là bởi ngay cái tên tập thơ cũng đã đem đến cái chợt bất ngờ ấy. Chợt thấy, chợt nghe, chợt nghĩ. Chợt nghĩ thế rồi nghĩ lại hình như không phải thế này mà là thế kia. Định rẽ lối này lại ngoắt sang hướng khác, có lúc định quay về, nhưng rồi một cái chợt lại đến, tỉnh táo và tiếp tục lộ trình. Ấy là cảm nhận của tôi khi đọc bài thơ được chọn làm tên cho tập thơ, và đó cũng là mạch cảm xúc xuyên thấm trong suốt mạch thơ Huyền.

Ca dao xưa có câu: “Nụ tầm xuân nở ra xanh biếc/ Em lấy chồng rồi anh tiếc lắm thay”. Khi nụ đã nở rồi thì còn chuyện gì để nói. Em đã lấy chồng anh đành ôm mộng nhớ thương nhưng lòng chắc sẽ chẳng bao giờ nguôi quên cái nụ hoa xanh ấy. Giá có ước thì chỉ mong nó cứ nụ mãi như hôm qua, hôm kia. Cái nụ yêu ấy thuộc về quá khứ, quá khứ dụm dành và ánh lên vẻ đẹp tinh khiết. Nhưng đấy là ca dao, Huyền có cách cảm riêng. Khi tầm xuân đã nở hoa, chị cũng “tiếc lắm thay” như người xưa, và thêm cái chợt thấy từ một sớm mai, từ một rãnh phố sẽ bật lên những mầm hi vọng: “Để bình minh về rót mật vào rãnh phố/Có nụ tầm xuân nhú chồi biếc xanh”. Bởi người viết thơ lí giải một cách mộc mạc rằng: “Thứ nắm trong tay không hẳn của mình, thứ buông lỏng chưa chắc của người”. Thế thì tuy có “tiếc” thật đấy nhưng em đi lấy chồng rồi mà chắc gì “người kia” đã nắm được em.

Trong tập thơ có khá nhiều bài có sự liên tưởng bất ngờ và thú vị. Bất ngờ vì các bài thơ tác giả viết là những đề tài muôn thuở: quê hương, mái trường, tình yêu; là những hoài niệm về những mùa thương nhớ, những kỷ niệm tuổi học trò, những điều ngang trái, bất hạnh, vô cảm... Nhưng không dừng lại ở việc kể, việc thấy, việc nghĩ, mà ở nhiều bài thơ lóe lên một phát hiện, một triết lý, điều rất cần để tạo nên thế vững cho tứ thơ. Thử dẫn mấy câu bất chợt ấy: “Nơi đon mạ thâm bầm chết nửa vẫn ngẩng lên màu lá lúa” (Đói những mùa thương nhớ);  “tiếng ve ngân bài cũ/Mà miền ta mãi xanh” (Nhớ miền nắng hạ); “Những dấu yêu bỏng nóng trên môi/Đã hóa thạch bụi mờ xác pháo” (Có còn nhớ nhau).

Thơ tình yêu là đề tài mà người cầm bút làm thơ nào cũng không thể không thử sức một lần.  Thơ thất tình, thơ chia li, thơ mất vợ, mất chồng, mất người yêu lại càng có nhiều bài để đời. Vì nó đau quá,  nó được viết trong nỗi đau dứt ruột, trong nước mắt cạn đêm. Xưa Vua Tự Đức  khóc vợ: “Đập cổ kính ra tìm lấy bóng/Xếp tàn y lại để dành hơi”. Thời hiện đại, Hoàng Cầm, Hữu Loan, Vũ Cao, Giang Nam... đều để lại những bài thơ bất tử về sự ra đi của người thương yêu. Nguyễn Thanh Huyền làm thơ tình yêu cũng là viết về sự mất mát đấy, nhưng là những mất mát trong day dứt, trong sự bất lực của kẻ đi tìm câu trả lời giữa mênh mông. Hãy đọc tên các bài thơ: Nụ hoa đỏ trái mùa; Có còn nhớ nhau; Hoang nắng; Tình khóc trong mưa... Đặt tên bài thơ như thế nhưng đọc toàn bài lại không thấy bi thương, oán hờn. Nước mắt đấy, nhưng là những giọt lệ ấm nóng trên gối ngày xa. Biết đâu đấy sẽ có ngày lệ ấm vỡ òa trong hạnh phúc. Nỗi đau không làm ta gục ngã, nỗi đau nâng con người đứng dậy, đấy là thơ, chức phận của thơ. Đấy là những câu thơ hoang mang nhưng đã kịp neo lại và cất cánh: “mùa hoa sữa rưng rưng, bằng lăng tím ngát trời”; “Ta khước từ nhau mà phía bên sông câu hò vẫn réo rắt khản giọng”... Thật cảm động, nhân hậu biết bao lòng mẹ tiễn con gái ngày đi lấy chồng! Dặn rằng con đi đi nhé, vững tâm mà đi cho dù trời đang mưa bão. Thương con lắm nhưng vẫn dặn con hãy gạt nước mắt, ngôi nhà thứ hai mà con ở trọn đời mới chính là nơi phải gắng mà vượt lên tìm thấy hạnh phúc từ đó: “Ngoài trời mưa đổ/con hãy mặc áo tơi/ đi về ngôi nhà thứ hai nơi con sẽ ở trọn đời ” (Lời mẹ dặn ).

Cùng với thơ tình yêu, Nguyễn Thanh Huyền dành khá nhiều bài trong tập viết về làng quê, về mẹ. Viết về đề tài nào thế mạnh của tác giả vẫn là từ những kỷ niệm, những câu chuyện bình dị nơi chân tre bờ lúa mà bật lên một ý tưởng, được nâng cánh bởi cảm xúc. Những dòng thơ dạt dào cảm xúc là điều không dễ mấy ai cũng dễ trải lòng. Viết về đề tài cũ mà chỉ ngẫm, chỉ nghĩ, chỉ liên tưởng trăng sao, vũ trụ, nhân quần thì dễ gượng, dễ giả. Tác giả đã khắc phục được điều này. Mà có lẽ khi viết ra chị cũng chẳng mấy để ý là câu này, bài kia tôi viết bởi thi pháp Y hay Z.  Nhưng tôi nhìn bông lúa ngậm đòng, hoa phượng sân trường, áo trắng học trò Phố Phủ, dáng mẹ cô đơn trong ngôi nhà  vắng con gái yêu... tôi nghe thấy lời trái tim thổn thức, bằng những lời “như không có gì” như trong bài “Tìm lại” Có những câu nói thông thường đấy nhưng đặt nó trong bài thơ, trong nỗi xúc cảm của người nông dân đồng chiêm cả đời rạp mình xuống đất cấy lúa trồng khoai mà lúc nào mơ ước cũng mong manh, thì nỗi ước ao kia chính là ước nguyện truyền đời. Từ ước nguyện ấy mà con tìm về miền quê, lục ký ức thời gian, con đê có nắng trải vàng, tiếng gõ vách thuyền đánh cá, đất mẹ phù sa ửng đỏ ửng những giấc mơ, những cánh diều màu xanh là sứ giả tuổi thơ con và bạn con treo cánh liệng...

Đọc “Vườn xuân” của Nguyễn Thanh Huyền: Đôi khi trên nền cảm xúc dâng trào ấy, bỗng đâu lạc vào cái ý, cái tình thật là tỉnh táo, dĩnh ngộ  làm cho câu thơ, khổ thơ như bị vấp và cảm xúc là cái tỉnh của người say, hãy để cảm xúc tràn ra khi câu thơ đã dừng lại, tránh minh họa, giải thích điều muốn nói. Và xuất hiện một số bài thơ đọc cứ ngân nga, mênh mang, cho dù câu thơ, từ ngữ dùng lấp lánh mà vẫn không thấy chốn neo đậu thì phải chăng tứ bài thơ chưa rõ?

Tôi tin “Vườn xuân” của Nguyễn Thanh Huyền sẽ ngọt hương sắc như đời trần vốn vậy và  người đọc là người đồng cảm sáng với ngôn ngữ thơ cùng nhà thơ mới là tri âm!

Chùa Láng, 21-8-2017
H.Đ

Văn nghệ - Nơi cất cánh* (Bùi Việt Thắng)

Hướng tới kỉ niệm 70 năm thành lập Tuần báo Văn nghệ (1948-2018), nhà văn Bùi Việt Thắng đã có bài viết ghi lại những kỉ niệm của mình. Ông tâm niệm: “Văn nghệ chính là nơi cất cánh nghề văn của tôi và những người yêu văn chương khác mà tôi quen biết và quý trọng”.

VHP trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

 

 

 

 

 

Đọc thêm...

Lạc rừng - Thanh Giang

Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Lạc rừng” của nhà văn Thanh Giang Giang in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.


Nhà văn Thanh Giang


HỌ VÀ TÊN KHAI SINH: LÊ MAI SƠN. SINH NGÀY 13 THÁNG 11 NĂM 1930. QUÊ QUÁN: TÂN THÀNH BÌNH, MỎ CÀY, BẾN TRE. DÂN TỘC: KINH. NĂM 1947 THAM GIA KHÁNG CHIẾN Ở BẾN TRE RỒI CẦN THƠ (ĐẬU BẰNG TIỂU HỌC KHÁNG CHIẾN). THÁNG 9-1954 TẬP KẾT RA BẮC THUỘC SƯ ĐOÀN 330, HỌC BỔ TÚC CÔNG NÔNG 10/10, LÀM GIÁO VIÊN VĂN HÓA VÀ VIẾT BÁO, VIẾT VĂN. TỪ 12-1961 VỀ CHIẾN TRƯỜNG NAM BỘ (B2), CÔNG TÁC VĂN NGHỆ QUÂN GIẢI PHÓNG, PHÓNG VIÊN MẶT TRẬN. SAU 1975 LÀM TRƯỞNG PHÒNG BIÊN TẬP HÃNG PHIM NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, TRƯỞNG TRẠI SÁNG TÁC VĂN HỌC HỘI NHÀ VĂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH.

 

LẠC RỪNG


Có một lần anh ạ, em về thực tập ở vùng ngoại ô thành phố. Hôm đó từ An Phú Đông em đón đò máy đi ngược chiều theo sông Sài Gòn lên Củ Chi. Bất ngờ, trên một chiếc ghe đi ngược chiều, em thấy một người giống hệt anh Minh, ngồi trên đống bao tải trùm vải bạt. Điều khiến em tin chắc đó là anh Minh nữa là bên cạnh anh còn có cái nạng gỗ. Em gọi tên anh và chồm ra khoang mui. Không hiểu có gì giục lúc đó, em nhảy ùm xuống sông, lội theo. Bởi không thể bảo đò máy quay lại, trong khi chiếc ghe anh Minh đi cũng đang mở máy lớn. Còn không nói thì anh cũng biết em vốn là con gái rạch Cái Sấu, biết lội trước khi biết đi. À, bơi! Em vừa bơi theo vừa gọi, bấy giờ chiếc ghe máy của anh Minh quay lại. Còn chiếc đò máy em đi tưởng đâu hành khách té xuống sông, cũng quay lại. Khi em chồm lên ghe máy anh Minh thì mọi người cũng giúp em leo lên. Bấy giờ mới thiệt là ngỡ ngàng! Té ra là sự giống nhau thôi anh ơi! Nhìn cặp mắt đau khổ vì thất vọng của em không ai buông lời trách móc vì đã trở ngại chuyến đi, mà tất cả chỉ cảm thông, chỉ muốn an ủi...

Bác sĩ Lành trầm ngâm, đưa mắt nhìn về mũi con tàu mà bấy giờ đang ra ngã sông Lòng Tàu. Một vùng trời nước mênh mông lấp loáng ánh nắng trưa trên đầu ngọn sóng. Năm tháng trôi qua đã để lại trên gương mặt điềm đạm, phúc hậu của người thiếu phụ mà tôi quen hồi còn tuổi thơ ấy những nét già dặn và chững chạc duyên thầm biểu hiện ở mái tóc ngang lưng, thắt nơ hình bông hồng màu trắng sau gáy. Và trong đôi mắt mí lót thùy mị đang nhìn đăm đăm tận chân trời, thực tình vẫn tư lự hướng vào bên trong cùng mạch nguồn tâm sự về tình yêu và cuộc đời.

*

Một loạt mìn clây-mo nổ dữ dội, tiếp theo là súng rộ lên - đạn lửa đỏ lừ xuyên rừng đêm rùng rợn. Minh vẫn nằm bất động trên cái võng cáng đặt trên mặt đất gồ ghề. Lành, cô y tá theo đoàn tải thương còn đang điếng hồn, run rẩy chạm vào người Minh rồi sờ soạng lên bụng, lên ngực anh, thì thào:

- Lọt ổ phục kích! Anh nghiêng người ôm cổ cho em cõng rút nhanh!

- Lo cho hai cô khiêng tôi - Minh đáp, vừa cọ trái lựu đạn vào vai cô gái - Tôi sẽ cưa hai với chúng nó cái này.

- Hai đứa nó chết hết rồi! Lẹ lên! - Lành giục. - Nghiêng người qua!

- Không! Cái chân tôi gãy rồi, chắc gì... Cô còn phải lo cho nhiều người khác...

Một loạt đạn véo qua sát sạt giữa hai người. Lành hụp nhanh rồi nhổm lên, thì thầm gắt:

- Không nên đôi co mất thì giờ! Đảng giao nhiệm vụ cho tụi em. Nhanh lên, ôm cổ em nè!

Như một bé em, Minh ngoan ngoãn chiều theo từng động tác của cô gái. Tuy mới theo chiến trận song cũng nhạy cảm, nhằm hướng đạn lửa vạch đường, Lành cố sức cõng Minh trườn đi một cách khó nhọc. Sau lưng súng vẫn nổ rát và pháo sáng bỗng vọt lên, cùng với tiếng la xì xồ của bọn biệt kích Mỹ...

Thế rồi sau những ngày mưa, đêm rừng càng âm u. Từ những lớp cỏ mục lưu niên xông lên mùi ẩm mốc khó chịu, trộn lẫn hơi thở rừng già khiến không khí trở nên nặng nề. Lại thêm vết thương, nỗi đói, nỗi lạc rừng mù mịt, Minh càng thấy bức bối.

Trải ni-lon nằm bên dưới võng Minh, Lành nghe anh thở khác thường, vội nhổm lên:

- Có sao không anh Minh? - Vừa hỏi Lành vừa sờ trán Minh, bỗng thảng thốt kêu - Trời ơi, anh sốt cao quá!

- Nhờ Lành tiêm cho lọ "pi" nên đỡ nhức. Em yên tâm đi.

Ba ngày trôi qua, nhiều lần Minh bảo Lành: Em còn trẻ, khỏe, đừng vì anh mà chết uổng đời. Cứ để anh nằm lại mà đi tìm đơn vị. Nhưng Lành nhất định không rời anh. Nói lời thiết yếu: "Đi cùng đi, sống cùng sống, chết cùng chết. Bỏ anh lại trong rừng còn thú dữ, còn biệt kích, em không đành lòng nào!" Và lần nào Minh cũng đưa trái lựu đạn ra coi như là bùa hộ mạng, sẽ cưa hai với biệt kích. Thế là Lành lại khóc:

- Nếu vì mạng sống của mình, em ở nhà cũng sống được. Thậm chí ra thành, đi làm sở Mỹ cũng sống khỏe. Nhưng em đi đây là chuyện khác, chuyện không thể sống quỳ, lệ thuộc, nhìn thấy bất bình mà tha. Giờ đây em là y tá. Lương tâm thầy thuốc không cho phép em bỏ thương binh.

Nhưng khổ nỗi hai người đều trong cảnh rừng lạ. Minh từ miền Bắc mới bổ sung vào sư đoàn 9; Lành từ đồng bằng Bến Tre mới lên, đều tham gia chiến đấu trận đầu, mà là đụng với quân Mỹ: Sư đoàn Anh cả đỏ, hung hăng từ bên Mỹ mới tăng cường. Rừng sâu mịt mùng, càng đi càng bí lối, càng sưng tấy vết thương đùi Minh mà bụng thì trống rỗng! Sang ngày thứ tư, phần gạo rang của Lành trong túi cứu thương đã sạch. Đây là gạo rang "chống càn", chỉ đỡ đói cho một người trong ngày. Còn lương thực theo mình, mỗi người đều có ruột tượng gạo. Nhưng hôm ra trạm phẫu, cũng như Minh ra trận, tất cả đều để lại ở vị trí tập kết. Đơn vị còn nổ súng phía trước, ai ngờ thằng rút kinh nghiệm nhanh, lần đầu tiên bị nó bọc hậu. Cũng may Lành tính con gái phòng xa, nên võng, tấm tăng và bình toong lúc nào cũng kiềng vào thắt lưng. Phải nói thắt lưng Mỹ và bình toong kèm ca inox là vật dùng thành "mốt" trang bị cho tân binh đồng bằng đi chủ lực Miền. Lành được má cưng, đi chợ Bến Tre sắm cho đủ bộ lúc lên đường. Quê Lành ở Tân Thành Bình, ấp Cái Sấu. Cái ấp sau này người ta đã đổi tên là Thành Hóa, nhưng dân gian vẫn quen gọi cùng tên với con rạch. Chắc nơi đây ngày xưa còn là rừng, con rạch cá sấu dữ lắm nên thành danh. Hôm hai người lần đầu hỏi thăm tên tuổi, quê quán nhau, điều đó cũng để lại ấn tượng thú vị mà khuây lãng hiện tình. Nghe đến quê Minh chỉ gọi một tiếng "Neo", Lành cười ngặt nghẽo, phô hàm răng nhuyễn sáng:

- Chắc em không dám về quê anh. Neo, nghe ghê quá!

- Neo! Nhưng không có cá sấu! Minh châm chọc.

- Neo! Neo tàu bè, neo người ta! - Bỗng dưng Lành nghiêm giọng buồn - Hồi tụi nó tố cộng, ngoài số nào lên máy chém, chỗ em là sông rạch, tụi nó neo đá người ta dưới sông.

Nỗi thông cảm càng làm Minh cũng bồi hồi, nhớ làng quê.

- Neo quê anh, vùng Tây Hồ, Thọ Xuân, Thanh Hóa, hồi đó bộ đội Nam bộ sư đoàn 330 về đóng. Các anh cũng bị mắc gốc mắc rễ ở đó nhiều! Anh cũng có bà chị lấy chồng bộ đội miền Nam...

- Đó, thấy chưa! - Vừa buồn đó, Lành vui đó, cười ngặt nghẽo - Rõ ràng là neo người ta, báo hại chị em trong nầy ngóng trông mấy anh đi tập kết về mòn con mắt!

- Người chị cả anh... - Giọng Minh trầm trầm - Hồi ấy đi chống lụt với bộ đội, các chị hay hò đối đáp: ăn cam ngồi dựa gốc cam; lấy anh thì lấy, "viền" Nam em không viền". Tưởng hò chơi, thế mà lấy chồng Nam Bộ thật. Anh ấy đã về Nam chiến đấu năm 1960, để lại chị cả anh mang một cái bầu tâm sự, năm sau đẻ ra thằng Cò giống hệt anh ấy. Thằng Cò nay lên năm mà chưa thấy mặt bố. Anh đi, chị cả có nhờ tìm giúp. Nghe tin anh ấy cũng ở công trường Chín nầy, nhưng còn đang chiến dịch, trận liền trận lu bù... - Rồi Minh bỗng cười - Đấy, nói viền Nam em không viền, nhưng dù Neo, có neo nổi người ta đâu...!

Không thể khoanh tay ngồi chờ đồng đội đi tìm, hay van vái thần linh. Lành quyết tìm đường tự cứu. Cô ngụy trang chỗ nằm cho Minh kín đáo rồi bẻ cò cây lần đi. Đến một cái cứ. Lành mừng quá. Nhưng sau khi thận trọng nghe ngóng, tiến vào thì chẳng gặp bóng một người nào. Tuy mừng hụt, Lành vẫn nghe ấm ran khi gặp lại dấu vết còn vương hơi người. Từ cái bếp Hoàng Cầm lạnh ngắt tro than đến những căn hầm chữ A rêu xanh cũng làm Lành ngậm ngùi nhớ đơn vị, nhớ chị em, nhớ má ở nhà. Tự dưng Lành gục đầu vào gốc nhà lá trung quân khóc ngon lành, khóc không cần giữ gìn ý tứ, khóc đã thèm thôi. Đang khóc muồi, Lành bỗng giật mình run bắn bởi ai đó "khoọc" lên một tiếng rùng rợn như nhác ma. Rồi một tiếng "khoọc" trên vòm cây tiếp theo. Tim Lành cơ hồ nhảy thoát ra lồng ngực. Một lúc trấn tĩnh. Lành nhận ra đó là con giộc, và một câu rủa khoái trá ném theo: "Đồ mắc dịch, làm người ta hết hồn!". Nhưng chính nhờ con giộc "mắc dịch" đi ăn trái gì đó đã dắt dẫn Lành tìm ra phương kế kéo dài sự sống và cầm cự vết thương cho Minh. Con giộc "khoọc" lên một tín hiệu, tức thì đồng loại chuyền tới ào ào, chúng vừa ăn vừa xả, hay cố ý ném xuống cho Lành ai biết. Lành lượm lên mặt săm soi. Đó là loại trái kết chùm, từ ngoài da đến trong ruột giống hệt như trái vải, có điều chỉ bằng ngón tay và chua nhiều hơn ngọt. Sau khi nếm thử, Lành nghĩ ngay đến sinh tố C mà Minh rất cần. Chẳng cần đắn đo, Lành ăn một lúc hết chùm trái, nghe phục hồi gân cốt, trèo ngay lên cây. Con gái ở miệt vườn, leo trèo một cây. Thế nhưng leo vừa lưng chừng. Lành mới hay là đuối sức, mắt hoa, tay chân bủn rủn. Cũng dễ hiểu là mấy hôm nay chỉ cầm hơi bằng nước lã và chút đỉnh gạo rang. Bây giờ tuột xuống thì đừng hòng leo lên nữa, mà không hái được trái thì điều gì xảy ra cũng dễ hiểu. Lành ôm chặt cứng thân cây chờ qua cơn choáng rồi lại tiếp tục leo tiếp lên, chậm chạp nhưng vững chắc từng động tác một. Khi đã trườn người được lên cháng ba thì Lành chỉ ngồi thở dốc, mồ hôi vã đầm đìa, lạnh toát. Bầy giộc ngúc ngoắc những cái đuôi thật dài, chuyền đến gần Lành như trêu ngươi, chúng vừa khoọc vừa vút vắt cái mặt xanh, khi nhăn khi túm cái miệng trông thật buồn cười, dễ thương. Lạ lùng, Lành bỗng nghe hồi sức, hái trái và nhanh chóng trở về khoe "chiến công" với Minh.

Nhưng chưa kịp khoe công quả đáng mừng, Lành thêm lo vì phát hiện Minh sốt cao quá. Cố gắng nào đối với Lành cũng đều quá mức, đến lúc một giọt nước làm tràn ly nước, Lành xỉu bên mình Minh.

Rừng chiều lặng trang thêm buồn hiu. Bom đạn chiến tranh xua cả chim chóc phiêu bạt. Thương quá, nhưng chẳng dám kêu, Minh gọi Lành thì thầm và ve vuốt món tóc mai, nhưng không dám giật lay tỉnh. Bỗng Lành choàng mở mắt. Ý thức trách nhiệm cao cả lay tỉnh Lành đúng hơn. Cô ngồi lên khoe ngay với Minh bọc trái cây trong nón tai bèo, nài nỉ anh ăn và hỏi anh trái gì? Minh lắc đầu không biết nhưng vị tình nếm thử, chua nhăn mặt, toan nhả. Lành bụm niệng anh, can:

- Đừng! Giộc ăn ào ào, đừng sợ. Trước hết giàu sinh tố C, rất cần cho anh. - Lại vẫn phong độ nhí nhảnh. Lành bóc vỏ ăn một hơi nhiều trái, phun hột búa xua, vừa nói kháy - Cũng là dân Trường Sơn mà hổng biết trái này! Thôi bây giờ, em, Nguyễn Thị Lành đặt tên cho nó là trái Lành. Ăn đi! Dứt khoát là lành.

Nghe lời, Minh cố gắng ăn. Bỗng Lành ngẩng lên ngơ ngác, kêu:

- Sao mà im lặng đến rợn người vầy nè?

- Coi chừng B.52 đấy... Minh vuốt nhẹ mái tóc kẹp rối bời của Lành, tìm nguồn trấn an cho cả hai - Kinh nghiệm đường Trường Sơn, B52 rải thảm đường mòn Hồ Chí Minh khi đột nhiên im lặng, có nghĩa các loại máy bay khác đều phải tránh xa tọa độ chết.

Quả nhiên, tiếng động cơ chợt văng vẳng, rền rỉ bầu trời. Minh kêu "B52" vừa dứt thì bom cắt. Tiếng rú man rợ rít qua đầu hai người, tiếng nổ đồng thời rung chuyển trời đất. Lành nhoài người ôm chầm, che lấy Minh. Má cô chạm lên má anh nóng rực. Tiếng bom nổ từng đợt nối tiếp nhau như cơn lốc dữ dội trùm lên hai tấm thân nhỏ nhoi giữa rừng hoang. Lành nghe lòng cồn lên theo từng đợt bom. Trong nỗi lo sợ càng bừng cháy lên tình yêu. Dám chết cho nhau cơn hoạn nạn hãi hùng còn là vượt hẳn lên tình yêu thông thường. Những mảnh bom chém phập vào thân cây sực sực hầu như chẳng mùi mẽ gì. Dân công gái đồng bằng lên hành động lấy thân mình che cho thương binh khá nhiều tình huống. Mùa mưa nước dâng đầy thường khiêng cáng bằng đầu, lội qua những dòng suối, những trảng cỏ, đồng bưng suốt hàng cây số. Bất giác Lành nghĩ: giá cả hai cùng chết. Về cõi vĩnh hằng thành đôi uyên ương không bao giờ chết. Vậy là Lành thả lỏng tâm hồn, mặc tình cho thể xác nhột nhạt, nóng bừng...

Thần chết hung hăng rồi cũng đi qua. Lành vùng lên phủi sạch bụi đất và xác lá cho Minh rồi cho mình. Người tươi tỉnh hơn lên, Lành đưa cho Minh chùm trái, nói như ra lịnh:

- Bây giờ em thay băng. Anh nhấm nháp chùm trái "lành" nầy thay cho thuốc tê nghe chưa!

Minh tiếp lấy chùm trái, muốn nở nụ cười đáp lại Lành, nhưng chỉ nhếch mép một cách gượng gạo.

Vết thương Minh đã sưng tấy. Lành phải dùng lưỡi lam cắt bỏ ống quần; cũng bằng lưỡi lam ấy, Lành sát trùng, cắt bỏ chỗ thịt bắt đầu có mùi hôi. Trong khi Lành căng thần kinh với vết thương thì minh cũng đau đớn tận óc não, càng chép dữ trái "lành". Cơn đói càng giục giã, anh nuốt liền một hơi hết cả chùm. Cơn đói không nguôi mà bụng lại cồn cào dữ đội. Và như thế cũng có phần làm giảm đau vết thương thật!

Băng xong vết thương cho Minh, Lành lả người, chưa kịp thu dọn, cô nằm chuồi xuống bên Minh chẳng cần giữ ý tứ gì, thở phào rồi mệt mỏi thiếp đi. Lòng Minh càng ngậm ngùi chua xót. Một cô gái còn trẻ trung mới hôm nào da dẻ còn trắng trẻo hồng hào xinh đẹp mà giờ đây xanh xao hốc hác. Lành nằm dựa sát vào người Minh, hồn nhiên cọ da thịt con gái đương thì làm Minh phút chốc bồi hồi, rạo rực. Có lẽ sau khi thay băng, vết thương có phần dễ chịu. Và như thế một nỗi niềm gì trong anh tưởng đã chết, bỗng sống dậy, xao xuyến. Có điều nghe êm ả tâm hồn bao nhiêu, anh càng tê tái lòng bấy nhiêu. Câu hỏi lạ lùng trước số phận trở lại làm khổ sở anh: "Tại sao loạt mìn Clay-mo đêm hôm ấy không giết chết mình đi? Tại sao còn sống chi với vết thương ác nghiệt để làm khổ người khác?".

Hoàng hôn ở rừng chỉ chốc lát rồi đêm xuống nhanh. Song cái khoảnh khắc ngắn ngủi càng gợi lòng bâng khuâng vô hồi. Giữa tranh tối tranh sáng, những chiếc lá trên cành như hối hả dan díu nhau. Gió thì thào sâu thẳm điệu ru buồn. Tháng Ba rét đậm. Mẹ đi cấy đồng sâu với chiếc áo tơi gió lật trên tấm lưng còng. Bàn tay xương xẩu của mẹ run rẩy. Bàn tay từng nâng niu đứa con trai qua bao tháng năm tần tảo, từng lau nước mắt tiễn con hành quân; rồi cũng bàn tay ấy run rẩy khi nhận tờ giấy báo tử của con... Mẹ ơi! Có thể rồi con cũng như bao đồng đội khác, sẽ mãi mãi không còn trở về trong vòng tay của mẹ!...

Trong màn đêm tịch mịch, Minh cầm bàn tay gầy xương của Lành vô tình ngủ mê ôm lên ngực anh. Bàn tay cô gái "Cá Sấu" lạ lẫm mà rất hiền dịu thân thương đối với cuộc đời anh. Ôi bàn tay con gái! Bàn tay xương xẩu mà mềm mại đã vực anh thoát khỏi tay thần chết, đã nâng bổng tâm hồn anh trong những ngày hoạn nạn. Ôi bàn tay đáng yêu biết dường nào. Nhưng mà ta có quyền gì bắt người con gái phơi phới xuân đời này phải cùng kéo lê số phận của ta, dù cho thoát khỏi cảnh lạc rừng thì... cuộc sống về sau cũng sẽ là sống "báo đời" mà thôi! Dằn hơi thở chua chát, Minh từ từ đặt bàn tay Lành trở về bên ngực cô. Bộ ngực vẫn căng đầy sức sống đang thở đều nhịp phập phồng. Nén cơn đau, Minh chỏi tay nghểnh lên nghiêng về phía bên Lành. Một cảm giác mới mẻ chợt làm Minh bàng hoàng. Trong mùi hôi đã quen mũi: mùi vết thương, mùi quần áo của hai người chua lòm mồ hôi, khói bom, bùn đất và cả tanh tưởi mùi máu. Minh bỗng nghe dậy lên mùi thơm con gái đến xao xuyến tâm hồn. Cũng vừa khi vết thương đau nhói vật anh nằm xuống, bật lên tiếng than thầm: "Mẹ ơi" Cuộc đời ơi! Mới vừa tuổi hai mươi lăm chưa từng yêu, chưa từng nếm một nụ hôn thường tình!...".

Đêm rừng vào chiều sâu. Cành cây nào đó bị trúng bom treo ngành, chợt rơi, rừng ào... lên tiếng vang vào đại ngàn. Tiếng con mễn lạc đàn "tác" lên thảng thốt. Ngọn lửa tình yêu đang bùng cháy trong Minh mãnh liệt, vừa cũng là sự bùng cháy của lương tri: ta đành lòng nào chôn vùi giữa rừng sâu mịt mùng cuộc đời của một người con gái trẻ trung đầy tương lai hữu ích cho đời. Thế rồi, bằng hành động cả quyết, Minh cầm lấy trái lựu đạn, khẽ lén lê người trên đất rừng gai gốc, mỗi lúc một xa chỗ nằm. Nhiều lần kiệt sức Minh phải nằm lại rồi kiên nhẫn lê người đi. Mồ hôi đầm đìa lăn vào mắt, vào miệng, rơi trên mặt đất rừng ẩm ướt. Vẫn lại tiếng con mễn lạc đàn tác lên đơn phương gọi bạn tình, âm âm não nùng giữa rừng cô tịch.

Từ căn cứ Mỹ hướng đường 13 - Lai Khê, đại bác 203 ly nòng dài chợt gầm lên. Trái đạn cực nhanh xé gió, rú lên sắc lẻm rồi bỗng nổ một tiếng đôi "uốt - roành!..." Tiếng nổ đánh thức Lành dậy. Cô quờ tay sang Minh như quán tính. Mất Minh! Sờ trái lựu đạn cũng mất! Lành hoảng lên bò đi tìm. Mấy hôm nay đọc tâm trạng Minh, dù Lành có đề phòng song sự thể vẫn xảy ra. Lành đâm sầm chạy trong lòng rừng mông lung, tối đen va vào cây cối xể mặt, u đầu bất kể. Phút chốc tỉnh người, Lành ngồi xuống, dang hai tay quờ quạng trên đất rừng hòng tìm dấu vết gì của Minh, hoặc hơi anh còn vương lại, cả hai tai thính động, cái mũi thính hơi, cả tâm hồn nhạy cảm. Lành tập trung dò tìm Minh. Nhưng hơi rừng chỉ đưa lại mùi lá rữa lưu cữu ẩm mốc ngai ngái, lẫn mùi cỏ dại, mùi hoa phong lan trên cao thoang thoảng tổng hòa bí ẩn hương tình yêu. Tình yêu cồn lên từng cơn sóng lòng. Ôi sao rừng không trả lại mùi hôi vết thương anh, mùi mồ hôi chua lòm áo anh? Trời ơi, nếu giờ đây ầm lên một tiếng lựu đạn nổ thì... Rồi không thể ngại vì biệt kích, Lành phát gọi lớn thảm thiết: "Minh ơi!... Anh Minh... ơ... ơi!..."

Tiếng kêu của tình yêu lảnh lót giữa rừng đêm như một mũi dao xuyên vào tim người. Minh rút ngón tay ra khỏi khoen chốt an toàn trái lựu đạn, rồi không phải đáp, chính từ trái tim anh rung lên: "Lành-ơ...ơi! Em-Lành-ơ-ơ...ơi!

Thì ra Minh chỉ nằm cách đấy chừng mười bước chân. Lành xoay người nhảy bổ tới Minh. Trước tiên là cô chồm lên người anh, tìm giành lại trái lựu đạn. Khi đã cầm lựu đạn vào tay. Lành nấc lên:

- Nếu cần thì bây giờ... Em rút chốt đây! Em có ham gì sống cho riêng em. Nếu anh muốn hủy mình để trả em về cuộc sống thì em rút chốt nghen! - Giọng uất lên - Em rút chốt liền đây!

Bàn tay Minh lính quýnh tìm giữ trái lựu đạn, vừa rên rỉ:

- Đừng! Đừng rút chốt! Tha lỗi cho anh Lành ơi! Mà không! Hãy trừng phạt anh đi! Trừng-phạt-anh-đi-i...!

Mâu thuẫn với cả chính mình, Minh vừa yêu vừa muốn chạy trốn. Vừa muốn giải thoát cho Lành lại vừa vô tình phủ nhận giá trị một hy sinh cao đẹp. Anh tưởng mình là gánh nặng, nhưng quên rằng hãy còn trí não, hãy còn tâm hồn, còn lòng nhân ái con người. Anh chết, bỏ Lành cô đơn giữa rừng hoang vu còn là cái tội. Lành tha hồ nhằn Minh bao nhiêu anh chỉ một mực van xin: "Hãy trừng phạt anh đi". Nói đã một hồi, Lành khóc. Nước mắt Minh cũng trào ra, chan hòa rơi xuống mặt đất rừng lạnh lùng. Bất chợt tiếng con chim rừng trỗi lên giai điệu trầm buồn: "Tì tì - ti ti... Ti ti - tì tì...". Tiếng chim chậm rãi, dứt một lần, lặng im giây lâu, nhại lại. Nó như muốn dỗ nín Lành đó chăng? Cô vụt ngồi lên, kéo tà áo bà ba lau nước mắt và xì mũi rột rẹt, lại giọng nhí nhảnh:

- Đố anh con chim nó kêu gì vậy?

Minh không đáp, hỏi lại. Lành cười khúc khích, ấp úng:

- Em nghe nó kêu... Mà thôi. Kỳ lắm! Anh nói đi! Nó kêu, kêu... Minh - Minh!... Lành - Lành!

Nói xong Lành gục lên ngực Minh, lại khóc, van nài:

- Đừng làm em sợ vậy nữa nghe anh! Thà em cực xác còn hơn... Chớ như vừa rồi thì... em ghê sợ bằng mười B52.

- Anh hiểu!... Minh thì thầm, - Em tha thứ cho anh. Chối bỏ công quả hy sinh cao đẹp của người khác, rốt cuộc mình càng trọng tội.

- Thôi, anh có lỗi gì với em - Lành lau nước mắt. Em muốn anh đừng mất hy vọng, đừng mất tinh thần. Người mất tinh thần thì chết! Thôi mình trở về chỗ nằm đi anh.

*
* *

Chiếc tàu khách thành phố Hồ Chí Minh - Duyên Hải lượt về giờ đang mở tốc lực vượt sông Nhà Bè. Ngược nước ròng chảy xiết, vừa gió mạnh, sóng ngang làm con tàu chòng chành, gầm lên dữ dội. Tôi thầm lo, lúc này mà chết máy, con tàu có nguy cơ trôi dạt ra sông Soài Rạp mất. Còn bác sĩ Lành thì vẻ mặt vẫn cứ tỉnh bơ. Đôi mắt mí lót với hàng mi cong vút chớp chớp, rồi lại đăm đăm nhìn mặt sóng lừng, Lành lại thủ thỉ, giọng xa vắng như là độc thoại với nội tâm:

"... Trời sinh ra con người cứ bắt phải trải qua nhiều nỗi sợ để thử thách tinh thần. Hễ tinh thần vững thì tồn tại, còn khiếp đảm thần hồn nát thần tính thì tự giết chết mình trước khi tai họa tới. Bữa đó em định đi hái trái rừng. Đó là trái "trường" mà hồi đó tưởng mình lập công cho nhân loại. Buồn cười, lại còn đặt tên mình vào. Hóa ra người ta đã phát hiện từ nảo từ nao, từng hấp dẫn thợ rừng, từng cứu đói bộ đội miền Đông cơn bão lụt. Nếu sáng đó mà em không dần dà chải tóc, rồi còn đeo bông tòng teng hạt châu làm dáng thì không biết sẽ ra sao. Ban đầu nghe tiếng dao phạt cây loạt soạt mừng quýnh, tưởng đâu đơn vị đi tìm mình. Chừng nhìn ra thì biệt kích, anh ơi! Ba thằng áo rằn ri. Anh Minh nói thường sau khi ném bom B52, chúng tung biệt kích thăm dò. Chúng vừa phạt rừng vừa tiến thẳng tới ổ tụi em nằm. Anh Minh cầm lựu đạn toan rút chốt. Em giữ lại, bảo chỉ còn một trái một, ném rồi thì... Đời con gái, hình dung ê chề lúc sa vào tay địch... Ôi, em niệm Phật, em cầu mong thần linh. Tiếng dao phạt càng gần, em không dám nhìn bọn chúng. Mặc dù trước khi chọn chỗ, em lựa một lùm gai mây rậm, có dây leo chằng chịt dựa vào gốc cây cổ thụ, khe hở còn được ngụy trang bằng cây sống thay vào mỗi bữa, kín đến nỗi hôm đi tìm trái về, em tìm ra rất lâu, ấy vậy mà giờ đây vẫn thấy trống lốc! Chưa bao giờ em phó thác cho số phận may rủi như lúc bấy giờ. Bỗng anh Minh nằm trở xuống, kéo theo em, lựu đạn để ở giữa. Anh thì thào: "Nằm im giả chết cho chúng xúm vào, ta rút chốt!". Em riu ríu nằm theo, ôm anh Minh, không ngừng lầm thầm niệm Phật. Tiếng giày nện tới như nện thẳng vào tim. Tưởng tượng tiếng lựu đạn sẽ nổ. Em nhắm nghiền mắt. Lạ lùng cứ trông chờ lựu đạn nổ. Ôi giây phút thật là nặng nề mà lại vừa thanh thoát khi cái chết được trù liệu chuẩn xác. Nhưng rồi không hiểu sao tiếng giày chỉ khua dồn trước bụi gai mây rồi vòng qua gốc cây, xa dần. Chắc là chúng phạt rừng dọn lối đi, chừng gặp cây to thì né tránh. Thế là hú hồn. Em từ từ hé mắt cũng là lúc bắt gặp ánh mắt anh Minh đang lom lom nhìn lại, không hàm chứa một ngôn ngữ gì, trống không, bất động. Ấy nhưng ấn tượng sâu đậm ngưng đọng mãi tới tận bây giờ.

*

* *

Phải chăng từ tâm hồn lạc quan, được nuôi dưỡng từng niềm vui nho nhỏ, bồi bổ cho đời sống tinh thần, hai người vẫn sống qua ngày dù đến ngày thứ mười mà họ vẫn chưa thoát khỏi cảnh lạc rừng. Cứ sáng ngày Lành kiên nhẫn đi tìm củ mài. Xưa nay, chân lý từng được chứng minh: "Hễ có công thì "trời" không phụ, hay như sách nho có câu: "Tận nhân lực mới tri thiên mạng". Tận lực mãi cho đến ngày thứ mười ấy, qua hàng trăm loại dây rừng rồi bằng lưỡi dao con chó đào thử, cuối cùng Lành đã đào được củ mài, không sao tả xiết nỗi vui mừng!

Tối ấy, từ một gốc rừng sâu, có một bếp lửa nhỏ nhoi sáng bập bùng... Cái ca inox bình toong Mỹ đầy nhóc củ mài được bắc lên đầu ba hòn đá bê từ lòng suối. Củi rừng, lửa cháy nỏ nang nhảy múa. Ca củ sôi lộc ộc vui vẻ, rồi củ chín. Hai người chia nhau ăn. Cơn đói dài ngày nên miếng ăn đến đâu biết đến đó. Nhất là miếng ăn - sự sống do chính tay của Lành kiếm tìm, khiến Minh thêm xúc động trào nước mắt. Nỗi khoái cảm càng được nhân lên, chẳng những hồi sức mà trí tuệ dường cũng minh mẫn hơn lên. Tất nhiên vết thương của Minh không có thuốc men, có nguy cơ hoại thư. Nỗi bi đát cũng càng tăng, thế nhưng trong Minh, lòng hy vọng vẫn nồng cháy. Có lẽ nhờ trái trường của Lành, đúng hơn là tấm lòng của Lành mà anh cầm cự được. Chính sức sống của tình yêu, chính tình yêu của Lành đã cứu sống hy vọng anh, tinh thần anh. Song lòng tự trọng của thằng con trai cũng từ hôm ấy càng dày vò Minh cái điều: Con người đáng vứt đi không phải là nỗi thương tật, lâm hoạn nạn mà là con người mất tinh thần. Minh quyết tự tìm đường chứ không nằm thụ động chờ, nằm chờ chỉ có chết thôi. Anh lý luận: B52 bom xong, biệt kích lùng xong, cũng là lúc đơn vị có thể đi tìm. Nằm trong ổ kín này không ai tìm ra. Kinh nghiệm sau biến cố, người ta thường lần mối từ hiện trường. Thế rồi hai người dìu nhau trở ra nơi bị phục kích đêm ấy. Gian nan cực kỳ lúc nầy là rừng không có đường, lại bị bom B52 rải thảm, cây cối ngả chằng chịt, bít lối. Bít lối mặt đất, nhưng vòm rừng thì mở ra, Minh tìm sao rừng mà xác định hướng đi. Chòm Thiêng Ưng, trong tám sao, có một ngôi sao sáng nhất đó là sao Ngưu Lang, nằm về hướng Đông. Đi về hướng ấy là hướng ra đường 13, hướng địch. Thế là mình đi ngược lại. Nhưng sức của Minh không thể lê nổi cái chân sưng vù, còn Lành cũng không thể cõng nổi Minh như hôm nào. Vả lại bãi bom, cây đổ ngăn cản, dù người lành mạnh cũng trần thân, huống hồ... Họ đành nằm lại bên bờ hố bom. Vết thương vần Minh trằn trọc chỉ biết nhìn sao hòng khuây khỏa đôi phần. Lòng càng chạnh buồn số phận, Minh nhận ra sao Chức Nữ đơn độc nằm lẻ loi ngoài chòm Thiên Cầm về phía Nam sông Ngân Hà, đối diện với sao Ngưu Lang ngăn cách bởi dòng sông! Niềm cảm xúc một huyền thoại bi tình trên "Thiên đường", làm Minh ngẫm thương chị mình xa người chồng miền Nam bên kia bờ sông Bến Hải. Nỗi buồn xa xứ cô đơn, hướng Minh quay lại thấy Lành đang ngủ vùi mê mệt. Sao trời soi mờ ảo trên gương mặt Lành càng thêm xanh xao, nhìn thêm chua xót! Song từ gương mặt gầy xương tỏa ra hơi ấm, cho lòng Minh càng bùi ngùi càng lâng lâng êm đềm như thuở còn thơ nằm trong lòng mẹ. Tình cảnh lạc rừng và vết thương bi đát nào có buông tha. Tuy nhiên trong lòng Minh đã nghe yên ả. Có được lòng yên ả trong cái nỗi khốn cùng, cũng là tìm được nguồn sức mạnh để vượt qua khốn cùng!...

*
* *

Bến Nhà Bè có chợ Phú Xuân, hành khách chờ tàu về thành phố đã thấy xôn xao, số hành khách trên tàu thì chộn rộn. Tàu cập bến, phận ai nấy lo, tất bật, trên tranh xuống, dưới giành lên. Lộn xộn, hầu như chẳng ai đếm xỉa nguy hiểm sông nước trong gang tấc. Nhưng rồi đâu cũng vào đó, nhanh chóng, an toàn, con tàu lại rời bến trở mũi ra sông, ý định chạy ôm doi Lương Thiện, cắt con đường ngắn nhất để vào sông Sài Gòn.

- Ôi, chào cô bác sĩ! Cô lại đi khám bệnh, phát thuốc miễn phí cho dân nghèo ở Duyên Hải về đó à? - Một chị khách từ Nhà Bè xuống chợt phát hiện bác sĩ Lành, mừng rỡ rối rít. - Ôi bà con Hiệp Phước nhắc cô bác sĩ hoài hè! Tôi đi Sài Gòn bán cua. Ờ, một lát lên tàu, cô bác sĩ phải xách giùm về cho tôi vài cặp...

Bác sĩ Lành chuyện trò với người đàn bà bán cua một cách vui vẻ, thân tình. Khi người đàn bà khai hết bệnh tình, sức khỏe ra sau, nuôi cua lột thế nào, hiện trong nhà cũng sắm được thứ gì... Lành biểu hiện hân hoan ra mặt và đôi lần ngoảnh sang tôi như xin lỗi.

"Điều em chắc anh Minh sẽ sống là khi đơn vị tìm gặp, anh Minh được đưa về bệnh viện K71. Vết thương được kịp thời xử lý cưa vì hoại thư. Sau đó em thì ra trận, anh Minh được điều trở về miền Bắc, từ đó bật tin... Còn vì sao mà em không ra miền Bắc tìm ảnh? Cuộc đời riêng đâu phải bao giờ cũng theo ý muốn. Vì yêu cầu công tác rồi yêu cầu phải học. Hòa bình rồi, trong công tác dốt là điều sỉ nhục. Đi học em cũng bị dèm pha: dốt như chuyên tu, ngu như tại chức! Nhưng nhìn đi nhìn lại trong cương vị then chốt, những thành quả đạt được khi tiêu cực xã hội nhiễu nhương, là có phần đóng góp đáng kể của "chuyên tu - tại chức". Thôi thì hơi đâu mà chấp nhặt... Còn bởi lẽ em tin: tình yêu là sự tìm lẫn nhau. Cho nên có thể đáng trách chàng Egô Đrêmốp trong truyện "Tính cách Nga" của...

- Alếcxây Tônxtôi.

"Vâng, Egô đã đóng vai đồng đội trước mẹ, cha và Cachia, người yêu... Anh ta về phép và quyết định ra đi sớm hơn dự định, chỉ vì ánh nhìn sợ hãi của Cachia trước bộ mặt anh bị chiến tranh tàn phá dị dạng khủng khiếp. Cả giọng nói cũng bị thương tật làm cho thay đổi, mẹ cũng không nhận ra, nhờ hơi cái áo con, bà đã úp mặt trong đó mà khóc. Nhưng con đi rồi bà mới viết thư bảo con hãy viết thư cho mẹ, kẻo không mẹ phát điên lên mất! Còn Egô thì ra ga đã tát thẳng vào mặt mình, tự hỏi: Giờ thì làm sao đây? Thì trở lại chứ còn hỏi. Theo em là thế. Không thể tha thứ cho một tính cách nhu nhược chạy trốn sự thật, vừa mất lòng tin vào con người, kể cả người thân yêu ruột thịt của mình. Dĩ nhiên... Sự thật của chiến tranh vô cùng nghiệt ngã, tàn khốc! Cái cao cả của con người là tự nguyện dấn thân vì chính nghĩa, chấp nhận mất mát. - Egô, em sẽ sống với anh trọn đời! Cachia đến với anh và nói vậy. Đó là tính cách Nga. Nhưng Việt Nam. Anh Minh của em không như Egô. Dù chỉ những ngày lạc rừng ngắn ngủi, song là một thử thách mà cả một đời người nhận được ra chân lý, anh Minh càng hiểu người yêu của mình. Em tin anh Minh không một chút gì mặc cảm tật nguyền. Còn nếu vì lý do nào đó anh không vào được thì dứt khoát em sẽ ra Thanh Hóa, về Neo tìm ảnh. Đã là tình yêu đích thực thì là tìm đến nhau mà anh. Ờ mà sao anh chưa hề hỏi em một lời về việc... đã lập gia đình chưa?”.

Bác sĩ Lành cười một nụ cười thoải mái, hàm răng nhuyễn và đều, sáng cả dòng sông. Người miền Bắc có tiếng "vâng" thật dịu dàng, sao mà trong trường hợp này, không có tiếng nào hay hơn mà Lành đã biết dùng:

- Vâng! Em đã lập gia đình và có một cháu gái lên ba. Bác sĩ Lành bấy giờ như trở lại tính cách thời con gái, vừa nói vừa cười rất hồn nhiên:

- Cùng cái dạo mà em nhảy đò máy, lội theo ghe tưởng lầm là anh Minh, thì anh Minh quả nhiên như em tin, cũng có mặt ở thành phố Hồ Chí Minh, đang hỏi dò các bệnh viện, tìm em, và chúng em gặp nhau chẳng có khó khăn gì. Hay có thể nói: những khó khăn cực kỳ mà đời người đã vượt qua, thì dù có khó khăn nào cũng bằng như chẳng có. Miễn là có trái tim thôi thúc tìm đến nhau. Đấy đúng là tính cách Việt Nam, phải không anh? Ba cháu... Anh Minh không cho gọi bằng bố. Gọi "ba" cho đừng khác biệt Nam Bộ. Nhưng lại thuận cho con gọi mẹ. Gọi mẹ cho ấm cúng trong truyền thống dân tộc. Ba cháu giờ làm ở xí nghiệp Hăm bảy tháng bảy. Dù mang cái chân bằng gỗ, nhưng anh không đi bằng cái nạng gỗ đâu nhé. Anh đi xe đạp vững cũng như người bình thường vậy đó!...

Sau giọng nói có vẻ mãn nguyện của một con người hạnh phúc, không phải là nụ cười sáng cả dòng sông mà cả gương mặt bác sĩ Lành bừng sáng. Cái cổ trắng ngần không có đôi bông tai toòng teng hạt châu làm duyên như thời thiếu nữ, cũng chẳng có bông vàng gì bây giờ, song đường nét của cằm, của má đã no đầy vừa phải, làm cho làn da càng mịn màng và hồng hào. Dù chỉ một vùng cạnh tai, thế cũng đủ cho duyên thầm mời gọi làn gió sông ban trưa mát rượi, đùa vui với những sợi tóc huyền.

T.G

Khoảng sáng tình người - Đinh Thường


Cuộc thi sáng tác thơ, ký và ca khúc “Công đoàn thành phố - Một chặng đường lịch sử” do Liên đoàn Lao động thành phố và Hội Liên hiệp VHNT Hải Phòng vừa khép lại. Ngoài các tác phẩm đoạt giải ở các thể loại thơ và ca khúc, BTC đã chọn trao 08 giải cho thể loại ký (02 giải nhì, 03 giải ba và 03 giải khuyến khích).

VHP trân trọng giới thiệu tác phẩm đoạt giải nhì của nhà thơ Đinh Thường.

Đọc thêm...

Nhà thơ, NSNA Vũ Thành Chung - Người chưng cất bước chân mình (Bình Nguyên)

Tôi gặp Vũ Thành Chung lần đầu ở Ninh Bình đã lâu lắm rồi. Lần đó ông đi cùng Tô Ngọc Thạch, Kim Chuông, Trọng Khánh. Trong 5 ông nhà thơ có mối lương duyên, gắn bó, cùng kênh, chuyến đi ấy thiếu Hà Cừ. Chúng tôi tặng thơ, làm quen rồi chia tay. Vài hôm sau Vũ Thành Chung điện: Bình Nguyên à... Vài hôm sau nữa Vũ Thành Chung xuống Ninh Bình bằng chiếc xe máy đã nhạt mầu. Lần này xuống không phải để đàm đạo thơ, nói chuyện thơ, tặng thơ. Ông xuống để đi tìm cái đẹp qua ống kính của một nhà thơ.

Hôm đó, tôi đèo ông xuyên nhiều con đường vòng vèo đầm, hồ, núi đá. Một ngày dòng dã từ sáng sớm đến tối trời, qua Tràng An, Đồng Chương, Vân Long, Cúc Phương, Hồ Yên Thắng... Đến chỗ nào mắt ông cũng sáng nhảo, say sưa bấm máy, rồi đẹp quá, đẹp quá... Mồ hôi ròng ròng đẫm áo, khô lúc nào không hay. Tối ở lại Ninh Bình, Vũ Thành Chung rủ mấy anh em văn nghệ sỹ ra bờ sông Vân ngồi uống bia cỏ, ngắm sao trời và đọc thơ. Gió mát, trăng thanh, thời tiết se se lạnh, tôi nhìn ông, ngắm ông một thân hình rắn chắc, phong độ, hào hoa cứ hồn nhiên trổ tài thi phú, khuôn mặt ông không thấy hằn lên những dấu vết toan tính, bon chen... Ông đọc bài thơ "Trên đỉnh kỳ quan" viết về Ninh Bình như một sự dự báo: "Tôi gặp kỳ quan Hạ Long trên đất Ninh Bình/ Bao nhũ đá đang hóa thành sự sống"... Mười mấy năm rồi, suy nghĩ ấy của ông đã thành hiện thực. Quần thể danh thắng Tràng An, năm 2014 được Unesco vinh danh là di sản thể giới hỗn hợp về văn hóa và thiên nhiên. Thế là ông đã về nơi "bút đá nghiên mây" trải lòng "trên đỉnh kỳ quan" mà "cầm bút làm thơ" mang tâm thế Ninh Bình.

Vũ Thành Chung đã từng làm kinh tế, lúc khấm khá, ông có cả đoàn xe chở khách ngược xuôi nhiều năm sang Lào đến hơn chục cái. Dần dà, đoàn xe cứ vơi dần, vơi dần, đến năm thành Nhà văn Việt Nam đâu còn vài ba cái. Rồi đến năm thành Nghệ sỹ Nhiếp ảnh Việt Nam thì hết. Điều này không khó lý giải với một Nhà thơ, Nghệ sỹ Nhiếp ảnh mà tâm hồn lúc nào cũng rung động, thiết tha đi tìm cái đẹp thì còn đầu óc đâu mà tính toán, cạnh tranh ở thương trường.

Vũ Thành Chung được rèn luyện trong quân đội những năm đầu đời của tuổi trẻ, ông đã từng công tác nhiều năm ở Trung ương Đoàn, được cử đi học ở Liên Xô, về nước với bằng Tiến sỹ Luật. Sau ngày về nghỉ công tác ông mua lại con Mercedes C200 trông còn ngon mắt lắm. Có xe ông bắt đầu tung tẩy.

Vũ Thành Chung là một Nhà thơ nhưng rất say mê chụp ảnh. Ông bước vào con đường ảnh nghệ thuật khá muộn, nhưng ngay từ những ngày đầu làm quen với máy ảnh Vũ Thành Chung đã thể hiện khả năng vượt trội ở loại hình nghệ thuật này. Càng chụp càng say, càng say càng lặn lội tìm kiếm cái đẹp.

Cuộc đời Vũ Thành Chung hơn chục năm trở lại đây là cuộc đợi tất bật ngược xuôi. Bước chân ông lội khắp ngóc ngách các vùng đất miền núi, trung du, đồng bằng của mọi nẻo đường Tổ quốc. Thỉnh thoảng trở về nhà vài ba ngày là ông lại sốt sắng, vào ra rồi lại khoác ba lô bươn chải.

Ông thường xuyên xuống Ninh Bình, khi thì tự lái xe ô tô, khi thì đi xe máy, nhưng nhiều lúc ông đi xe khách. Ninh Bình là miền quê yên ả, có nhiều di tích, danh thắng, nhiều cảnh đẹp, nhiều vùng sinh thái. Vũ Thành Chung rất mê Ninh Bình. Mùa lúa chín ở Tam Cốc; Mùa lễ hội ở đền Thái Vi, đền Đinh Lê, Tràng An; Mùa con nước ở Nho Quan, Gia Viễn; Mùa cò trắng, mùa mây về núi ở Vân Long bao giờ ông cũng có mặt. Chẳng riêng Ninh Bình, các vùng, miền từ Lũng Cú đến Hà Tiên, hầu như không có nơi nào thiếu bước chân ông. Ông đi nhiều, bắt gặp nhiều sự kiện, nhiều khoảnh khắc cuộc sống dồn nén in trong tâm trí. Ông làm thơ rồi chụp ảnh, chụp ảnh lại làm thơ. Giữa những khoảng nghỉ của thơ và ảnh là cảm xúc nghĩ ngợi, những nghĩ ngợi đan xen giữa con chữ và ống kính trong con người Vũ Thành Chung rồi trào ra tác phẩm theo những bước chân.

Ông hay xuống với tôi. Có lần sau cú điện thoại, chưa đầy hai tiếng Vũ Thành Chung đã có mặt ở Ninh Bình. Uống chưa xong chén nước ông đã bảo: Chuẩn bị đi thôi chú, trời đang đẹp, tí nữa sẽ có nắng vàng rồi ông tất tưởi mở ba lô kiểm tra lại máy. Ông thường mang theo người 2 chiếc máy ảnh trong đó có một chiếc lúc nào cũng được lắp ống kính tê lê. Để lại cái máy tính xách tay ở phòng, ông đeo ba lô, cầm chân máy háo hức cùng tôi lên đường tới Vân Long.

Vân Long, theo các nhà khoa học thì đây là khu bảo tồn thiên nhiên đất ngập nước lớn nhất đồng bằng Bắc bộ, đa dạng về sinh thái. Nhưng dưới con mắt của một nhà thơ, một nghệ sỹ nhiếp ảnh thì Vân Long là thiên đường của mơ mộng, là vẻ đẹp thuần khiết, hoang sơ đến tận cùng của trời đất, là nhưng nốt nhạc của cung bậc buồn vui dìu dặt cất lên làm lay động lòng người... Ai đã tới Vân Long vào mùa gió đã heo may, cò về sẽ chứng kiến bạt ngàn những cánh cò trắng phau như bông tuyết, những bông tuyết đan xen, kín đặc, rắc đầy dọc những lùm cây, trên những ngọn núi nối dài nhìn không hết mắt, lăn tăn soi bóng xuống đầm nước như mầu mây đậu lại. Mỗi cây cỏ, ngọn núi, cánh cò Vân Long đã từ lâu thân thuộc với Vũ Thành Chung. Vân Long đẹp và hấp dẫn, nhưng chụp được một bức ảnh mang hồn cốt, đặc trưng của vùng đất này không dễ.

Cánh cò Vân Long thường dẫn dụ, hút hồn Vũ Thành Chung. Qua nhiều lần trả giá khi không chớp được khoảng khắc ông tâm sự: Đừng tưởng tìm mọi cách làm cho những bầy cò bay lên là đẹp đâu. khi bị xua đuổi, chúng nhớn nhắc, hoảng loạn tơi tả, bấm máy chỉ được những tấm rối rắm, vô hồn. Ông rất thích những bầy cò bay khoan thai thành hàng như xếp đặt, mềm mại dọc núi tựa một con rồng trắng. Hay những bầy cò từng cánh nghiêng, xoáy tròn rồi tự nhiên gỡ ra bung trong vòng xoáy, uốn lượn lóng lánh dưới nắng vàng khi chiều xuống bật lên trên nền núi đá. Hoặc từng đôi cò trắng nghển cao cổ xoắn lấy nhau như vũ điệu mỗi chiều về núi.

Càng về sau này Vũ Thành Chung sống càng đạm bạc, chắt chiu. Căn phòng làm việc ở cơ quan tôi đã từ lâu thân thuộc với ông. Những buổi tối ở lại Ninh Bình ông thường nằm nghỉ ở căn phòng đó. Một chiếc vỏ chăn trải xuống nền nhà, ngả lưng, đắp lên người chiếc áo mỏng qua đêm, sáng sớm còn nhọ mặt người lại khoác máy ra đi.

Tôi với ông hay tranh luận về ảnh nghệ thuật, những lúc tôi gay gắt ông im lặng, sau đó ông lại phân tích, giảng giải. Khi chưa tiếp cận với phần mềm photoshop, nhiều bức ảnh đẹp tôi thường nghi ngờ cho rằng tác giả đã sử dụng phầm mềm can thiệp làm cho nó "lệch chuẩn" từ thực tế.

Có lần ông mở máy tính cho tôi xem bức ảnh chụp đền Vua Đinh Tiên Hoàng khi ông dùng ống kính mắt cá. Mầu sắc, ánh sáng, đường nét, bố cục, trên nền mây trắng, trời xanh thật đẹp. Tôi bảo ông, sai sự thật không chấp nhận, hai cột trụ trước đền là biểu tượng linh thiêng của lịch sử, không thể uốn cong "lịch sử " như thế được. Ông bảo: Gốc đấy, nguyên file đấy, máy chụp uốn thế đấy, tôi có đụng chạm can thiệp gì đâu, rồi ông cười: Có cái ở loại hình khác thì được, nhưng cái này thì không được. Ông lại cho tôi xem bức Tam Cốc. Bức ảnh phong cảnh rất ấn tượng, một dòng sông nhộn nhịp thuyền du lịch xuôi ngược, uốn lượn trên đồng lúa chín bao bọc xung quanh bằng những dãy núi đá vôi. Tôi và ông đã leo núi, cả buổi ở góc này, nhưng nhìn vào bức ảnh tôi bỗng nhiên rung động, xao xuyến thêm yêu vùng quê ấy. Tôi cũng chụp, nhưng sao không thể đẹp như ông. Ông cho tôi xem file gốc, cũng như tôi có gì đâu. Đến bức ông hoàn thiện thì rõ ràng đã khác một trời một vực. Nó khác ở chỗ dòng sông ở file chụp trước được chồng khít lên dòng sông ở file chụp sau và xử lý mầu sắc, sáng tối. Tôi nói, nhưng cấy ghép thế này nhiều người không chấp nhận đâu. Ông nhìn tôi có vẻ như tôi là người từ thời kỳ đồ đá bước ra rồi giảng giải: Chú đừng lẫn lộn giữa ảnh nghệ thuật với thời sự báo chí. Nó có sai thực tế đâu, vẫn dòng sông ấy, đoàn thuyền ấy, sóng nước ấy, ánh sáng, góc chụp ấy, thời điểm ấy. File trước núi đẹp, mây trời đẹp, sông không đẹp. File sau núi, trời không đẹp, sông đẹp, do đó phải cần đến cái đầu định hình từ khi chụp, rồi xử lý bảo đảm không sai lệch thực tế là được. Nhất là thể loại phong cảnh và du lịch nhằm quảng bá và giới thiệu hình ảnh các miền quê đất nước, không biết tôn lên, làm đẹp lên thì chỉ có mà tụt hậu. Cái anh thợ ảnh bây giờ cũng khác xa cái anh thợ ảnh ngày xưa, chứ chưa nói đến Nghệ sỹ nhiếp ảnh. Tác phẩm nghệ thuật không có giới hạn về cái đẹp, chỉ có người cầm máy mới giới hạn. Sự hấp dẫn của một bức ảnh và tài năng của người cầm máy là biến cái ai cũng nhìn thấy thành cái chưa ai nhìn thấy và biến cái chưa ai nhìn thấy thành cái ai cũng nhìn thấy. Chú xem có bức ảnh nào khi được in ra không qua phần mềm chỉnh sửa không? Người biết thì làm lấy, người không biết thì mang ra hiệu. Thời kỳ hội nhập, bùng nổ khoa học và công nghệ thông tin như hiện nay, mỗi ngày đều có một tiến bộ mới, anh không chịu tiếp thu, cập nhật một ngày coi như anh đã tụt hậu. Người tụt hậu thường rao giảng rất hay về những điều chưa nhìn thấy, nhất là khi có tí chức sắc, ông nhìn tôi cười có vẻ như ám chỉ. Chú xem cả nước có hiệu ảnh dịch vụ nào không có đội ngũ sử dụng công cụ phần mềm chỉnh sửa? Ảnh cưới, ảnh cá nhân, gia đình... Ai chẳng thích đẹp, có nhiều người còn yêu cầu thay phông, thay nền cho đẹp lên. Ngay ảnh báo chí gửi đến tòa soạn phóng viên biết sử dụng phần mềm ảnh họ vẫn đẹp hơn, dễ dùng hơn mà báo chí cũng khối bức ảnh, diễn, sắp đặt, tái hiện lại đóng dấu vào thời gian đầy thuyết phục có sao đâu, miễn không sai lệch thực tế.  Nói cho cùng thực tế chỉ là một khái niệm thôi chú ạ. Vũ Thành Chung chỉnh ảnh trong máy tính nói: Chú xem, tôi không chắp ghép đâu nhé, rồi ông kéo con chuột vào bảng mầu phần mềm, cái áo đỏ biến thành cái áo xanh. Cái áo trắng biến thành cái áo đỏ... Mầu sắc sai lệch một trăm phầm trăm. Ảnh nghệ thuật chấp nhận được vì người ta không mặc áo đỏ thì mặc áo xanh, chẳng sao. Nhưng đồng lúa đang xanh mà làm nó đỏ thì sai thực tế, không chấp nhận được. Phần mềm photoshop là công cụ hỗ trợ rất tốt cho những người cầm máy ảnh, chỉ tiếc số người sử dụng thành thạo, hiện không nhiều. Người non, kém thiếu hiểu biết hay lạm dụng làm sai lệch, gây phản cảm, khó chịu nhất là cho những người không biết sử dụng. Vũ Thành Chung vào Google mở một cây cổ thụ bảo tôi: Chú xem chụp được cây cổ thụ 3200 tuổi này, bày cho thiên hạ chiêm ngưỡng, trầm trồ khen ngợi và háo hức muốn tìm đến thì một nhóm các nhiếp ảnh gia và các nhà khoa học đã phải làm việc vất vả trong 32 ngày chụp 126 file ảnh mới dựng được "chân dung" cây khổng lỗ này. Ghép đấy, sao ảnh nghệ thuật mà cứ cấm người ta chắp ghép? Máy ảnh có loại còn uốn cong, bấm liên hoàn, tự nối, tự chắp ghép nhiều file, sao ống kính mình hẹp phải chụp hai, ba file nối vào lại không được? Ông nói với tôi: Chú ngoài chụp ảnh, còn là người lãnh đạo văn nghệ địa phương, chú không chịu học, không chịu tiếp thu cái mới thì bản thân chú thua còn anh em thì thiệt. Chú phải nhớ rằng, cái máy hay phần mềm chỉ là công cụ, con người bảo nó thế nào thì nó làm vậy. Người ta chỉ cấm cái lệch lạc chứ không ai đi cấm cái tiếp thu sáng tạo, hoàn thiện và tiến bộ. Quê chú đất du lịch, phong cảnh đẹp, ảnh chú chụp phải biết sử dụng phần mềm làm nó đẹp, hấp dẫn lên, nhớ đấy. Ông lấy máy, bảo: Để tôi chụp cho chú cái chân dung. Ông dẫn tôi ra ngoài hiên, nơi nắng mặt trời xiên ngang qua cửa, bấm dăm bảy file rồi về phòng đưa vào máy tính. File này chú thật đẹp, nhưng mắt lại nhắm, file này mắt đẹp quá những khuôn mặt không có hồn vía. Ông chỉnh sửa một lúc, đưa đôi mắt ở file không hồn vía sang file khác cho tôi xem rồi hỏi. Tất cả các file ảnh chụp chú, cả file chỉnh sửa, chú ưng cái nào? Tất nhiên không có cái nào đẹp hơn, hồn vía hơn cái file ông đã sửa. Mắt của chú đấy, tôi photosop đấy, chú thích còn bảo sai thì dùng cái không hồn vía ấy, hay cái nhắm mắt ấy rồi về đi guốc mộc nhé. Tất nhiên đôi mắt chú nhìn theo hướng khác đưa vào thì vứt. Thời đại người ta đi ô tô, máy bay mà chú cứ mang tư duy của người đi bộ áp đặt vào thì bao giờ tiến bộ được. Thôi không nói chuyện photosop nữa, bao giờ chú biết sử dụng thì mới nói chuyện được.

Với nhiếp ảnh, ông là người đi sau nhưng chịu đọc, chịu học và chịu cập nhật thông tin. Bẵng một thời gian khá dài ông không xuống Ninh Bình. Điện cho ông, lúc thì bảo đang ở Đồng Tháp, lúc lại Tây nguyên, khi thì Vũng Tầu, khi thì ở Trường Sa... Ông gắn bó với anh em nhiếp ảnh khu vực phía Nam thân thiết lắm. Nhiều vùng đất các tỉnh ông thuộc lầu lầu chẳng khác như ở Ninh Bình. Nhân có chuyến đi họp ở Bến Tre tôi điện biết ông đang ở thành phố Hồ Chí Minh, chúng tôi hẹn nhau và tôi đến thăm ông. Đến Bà Điểm rồi mới biết, đã hơn nửa năm nay ông "định cư" ở đó. Một mình từ Bắc vào học cách xử lý phần mềm Photoshop. Ông học thầy Dương Trung Hiếu. Tôi ở lại vài ngày mới cảm được ông cùng số anh em về đây học và thầy Dương Trung Hiếu gắn bó như một gia đình. Buổi tối ông nằm ngủ trên chiếc phản gỗ ghép miếng kê trong gian nhà mái tôn. Buổi trưa thường đung đưa trên chiếc võng dù ngoài gốc cây, có đêm nóng bức ông ra võng nằm ngủ.

Năm 2015, đoàn Nhiếp ảnh Ninh Bình vào sáng tác tại Tây Nguyên, gặp Vũ Thành Chung trong ấy, ông nhập đoàn. Khi đoàn ra, ông không về mà lưu lại với anh em nhiếp ảnh Tây Nguyên. Vài ba hôm sau tôi nhận được tin từ Nhà thơ Tô Ngọc Thạch: Bình Nguyên ơi! Vũ Thành Chung cấp cứu ở trong Tây Nguyên rồi. Giọng ông trầm lắng dâng lên nỗi buồn, tôi cũng buồn theo. Tôi biết Tô Ngọc Thạch là người thân thiết và rất quan tâm đến Vũ Thành Chung, những lúc Vũ thành Chung gặp khó khăn ông thường có mặt, rồi ông cho tôi biết Vũ Thành Chung ngã bệnh khi đang ở nhà Nghệ sỹ nhiếp ảnh Bảo Hưng. Căn bệnh xuất huyết dạ dày, nếu không được Bảo Hưng phát hiện cùng Nghệ sỹ nhiếp ảnh Lê Quang Khải đưa đi bệnh viện cấp cứu kịp thời ngay trong đêm thì ai biết được điều gì xảy ra vào sáng hôm sau? Từ bấy đến nay, sức khỏe ông không tốt, chỉ có một lần ông xuống Ninh Bình, không chụp ảnh mà xuống chơi với anh em. Trước khi ra về, ông ngoái lại nắm tay tôi đọc một câu thơ ông viết chưa lâu: "Trăm năm thương nhớ đến mình là ta". Ông đi rồi tôi nhìn theo mà bỗng thấy cô đơn. Hình như con người nhiều khi cô đơn ngay cả với chính mình. Ông đi rồi, tôi như còn nghe âm vang dội lại những câu thơ ông viết hôm nào về nghĩa trang Điện Biên khi một lần ông đến: "Bóng cây che mát đầu tôi/ Xanh từ nhựa máu mồ côi tên người". Phải rồi, ông đã từng là người lính, lên Điện Biên đi dưới tán tròn bóng mát của hàng cây được nuôi bằng máu của những người lính vô danh trong lòng đất không rưng rưng làm sao được. Người nằm xuống rồi vẫn hiến dâng tất cả những gì có thể hiến dâng được cho đời và thật ý nghĩa khi ông kết lại bài thơ "Dáng người lính trận cao hơn tượng đài"...

Cuộc đời Vũ Thành Chung ngoài văn chương, ông có một gia tài ảnh nghệ thuật cũng phải kính nể. Nhiều tác phẩm đã được khẳng định bằng giải thưởng trong nước và quốc tế. Nhiều tác phẩm mang dấu ấn riêng của từng vùng đất mà ông đã đi qua. Ông có nhiều bộ ảnh đẹp về Tây Nguyên, về Hạ Long, về Trường Sa... Sau lần ở Trường Sa về, ông nói với tôi muốn được một lần nữa ra Trường Sa để hoàn thiện những tác phẩm ảnh về biển đảo rồi tổ chức một triển lãm cá nhân. Với sức khỏe của ông như bây giờ điều này có thể chỉ còn là mơ ước. Khi xem Triển lãm "Nhiếp ảnh nghệ thuật Việt Nam 30 năm đồng hành cùng đất nước đổi mới" (1986 - 2016), tôi dừng thật lâu trước tác phẩm "Cao nguyên xanh" của Vũ Thanh Chung. Bức ảnh theo tôi là đẹp nhất về chụp chè từ trước tới nay,  không những hội tụ được hồn vía của một vùng đất đang bừng lên khát vọng mà nó còn hội tụ được tính cách, tư duy, tâm hồn của người cầm máy. Tất cả sự hòa quyện của cánh đồng, cỏ cây, trời đất trong không gian mênh mông ấy, làm tôn lên vẻ đẹp thuần khiết của con người đang thắp sáng mình trong lao động. Sau này tôi mới biết, ông đã lặn lội vào, ra nhiều lần với Bảo Lộc, Lâm Đồng

Có điều gì thôi thúc, dồn nén Vũ Thành Chung dốc nốt phần đời để trải nghiệm? Càng trải nghiệm, gắn bó với cuộc sống bao nhiêu, càng thấy những giá trị chân thành lấp lánh, ánh lên từ nơi gian khổ, càng bồi đắp tâm hồn, càng tự tin ngẫm ngợi, càng điềm đạm nhìn lại, càng thương cảm với thân phận con người...

Nhìn ra ngoài xa xôi đâu đó, tôi thấy hiện lên bóng dáng Nhà thơ, Nghệ sỹ nhiếp ảnh Vũ Thành Chung, sau những năm tháng chưng cất bước chân mình đang thanh thản đi giữa lòng bạn bè và tác phẩm.

 

Ninh Bình, tháng chạp năm 2017

B.N

Thơ Hoàng Xuân Tuyền - Một sự khác biệt (Nguyễn Hữu Quý)

Tập thơ “Tự do” – NXB Hội Nhà văn 2016 của Hoàng Xuân Tuyền mới được tái bản lần 1, có bổ sung đã và đang thu hút sự quan tâm của đông đảo độc giả.

VHP trân trọng giới thiệu cảm nghĩ của nhà thơ Nguyễn Hữu Quý về tập thơ này.

 

 

 

 

 

 

 

 

Đọc thêm...

Phạm Văn Đoan trong lặng thầm vang vọng – Kim Chuông

Đoan sinh ra và lớn lên ở Hưng Hà, Thái Bình (Đất Duyên Hà cũ). Đất Long Hưng. Đất nhà Trần dựng nghiệp. Đất thế kỷ thứ XVIII từng sinh ra nhà bác học nổi tiếng họ Lê với câu thơ mãi còn truyền tụng: “Thiên hạ vô tri, vấn Bảng Đôn”…

Đọc thêm...

Âm hưởng sóng - Tuỳ bút Phạm Vân Anh


Hải Phòng hôm nay không chỉ có những dòng sông, vùng biển đảo mà còn bao công trình trùng trùng bừng lên như sóng, là trường năng lượng hùng hậu kết tinh từ ý chí, trái tim triệu người đưa con tàu quê hương vượt biển đến trùng dương. Có phải chăng sóng của thiên nhiên, sóng của lòng người tuy song thanh mà đồng vọng, cùng tạo nên âm hưởng về một thành phố “với những nhà máy, với những con tàu” sẽ luôn “sáng ngời trên cửa biển bao la” như lời ca khúc “Thành phố của em” tôi đang nghe nơi cửa ô sớm xuân nay.

 

 

Đọc thêm...

Cửa Sa Va - Hoàng Lại Giang


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Cửa Sa Va” của nhà văn Hoàng Lại Giang in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Mảnh làng trong tôi - Xuân Đức


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Mảnh làng trong tôi” của nhà văn Xuân Đức in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Trăng tháng chạp - Anh Động


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Trăng tháng chạp” của nhà văn Anh Động in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Thức với Miền hương của Nguyễn Đình Di - Mai Văn Phấn

“Miền hương thức”, tập thơ thứ sáu của nhà thơ Nguyễn Đình Di vừa ra mắt bạn đọc. Phần lớn những bài trong tập thơ này được tác giả viết trên giường bệnh, lúc ông phải chống chọi với những cơn đau của căn bệnh hiểm nghèo trong điều kiện khắc nghiệt của cuộc mưu sinh thường nhật. “Những câu thơ như dòng sông bí ẩn”, nhà thơ đã viết trong bài thơ “Ai biết”, đã làm nên mạch nguồn sáng tạo, thành máu nóng nuôi dưỡng cơ thể, tâm hồn ông. Mỗi bài trong tập thơ đã mở ra như vòng tay thân ái cùng những người thân yêu, bè bạn để làm dịu bớt nỗi đớn đau thân xác, đưa ông về miền mộng mị chiêm bao, đắm mê mà thức tỉnh.

Tôi cũng như bao người đọc đã nghẹn ngào, thắt ngực đọc liền mạch tác phẩm “Miền hương thức”, chứng kiến những cơn đau bệnh tật kéo nhà thơ trầy xước giữa sự sống và cái chết, làm tâm thần ông có lúc nhập nhòa giữa hư và thực, sáng và tối, mê man và thức tỉnh. Cái hệ lụy khủng khiếp ấy khó ai vượt qua được mà không thoáng gợn chút bi phẫn, buông xuôi. Từ những nguyên cớ ấy có thể thấy, nội lực sáng tạo, đặc biệt cảm xúc thi ca trong tập thơ “Miền hương thức” của Nguyễn Đình Di không còn mạnh mẽ, phát sáng như những tập thơ đã từng công bố trước đây*. Cũng không thấy bài thơ nào đặt ngang tầm với “Khấn gọi cây”, một tác phẩm thơ đã làm nên tên tuổi Nguyễn Đình Di trong làng thơ Việt đương đại, đặc biệt thơ Hải Phòng sau 1975. Dù phải tồn tại trong hoàn cảnh khắc nghiệt, bệnh tật hiểm nghèo như vậy, nhưng Nguyễn Đình Di luôn giữ được phong thái ung dung, tự tin và cốt cách thi sỹ, được thể hiện trong từng trang viết, trong cách sống, cách ứng xử với mọi người. Khi kết nối những câu thơ hay, ấn tượng của ông trong “Miền hương thức”, bạn đọc vẫn đủ hình dung một chân dung thi sỹ Nguyễn Đình Di đắm mê, ngơ ngẩn, hết mực chân thành.

Trong lời đề từ tập thơ “Miền hương thức”, ông viết: “Với tôi, thơ là ân huệ nhận được ở miền thương yêu thức tỉnh”. Tôi không thể đoán biết nhân đức tin tôn giáo của Nguyễn Đình Di, nhưng những câu thơ ám gợi, tràn ngập ánh sáng của lòng nhân từ, niềm khát khao hy vọng vào một tương lai hạnh phúc an lành trong tập thơ đã cho tôi thấy được triết lý sống, triết lý sáng tạo của ông.

“Xin một ngày biển động

Gọi cánh trăng mở buồm”

(Lời ngỏ)

“Ngăm ngăm mặn gió vô thường

Lênh thênh nắng mọc dọc đường lá bay”

(Lời tạ mùa đông)

Có thể nói, phủ ngập trong cõi thơ Nguyễn Đình Di từ tập thơ đầu tay (Giấc mơ cây. Nxb Hải Phòng, 2001) đến nay là tình thương yêu con người, thiên nhiên, vũ trụ... Tình yêu ấy giờ đã được lắng lại trong thơ ông thành phù sa tươi tốt cho cánh đồng người:

“Lặng yên…/ Lặng yên…/ Lặng yên…

Hình như ai gọi ở miền cỏ thơm”

(Gọi)

Lòng yêu thương con người, từ những người thân thương gần gũi trong gia đình, bạn bè, đồng nghiệp tới những người dưng xa lạ vẫn luôn là ánh sáng lan tỏa, là tiếng vọng từ trái tim tới trái tim trong “vương quốc” thơ của ông:

“Liêu phiêu giăng sợi nắng vàng

Buộc bao nhiêu gió vắt sang vườn người”

(Chiều gọi)

“Sau những lan man này

Thương yêu còn thăm thẳm

Tin lắm chốn an lành

Ánh nhìn ăm ắp nắng”

(Lan man Facebook)

Ánh sáng ấy từ trái tim nhà thơ buông xuống như nắng sớm mùa đông ấm áp và yên bình “Câu thơ vừa nín gió/ Nắng đã hoe hoe vàng” (Màu xuân); Nó mở ra một khoảng không vừa cô liêu vừa xa lạ, mà ở đó chỉ có tiếng gọi con người với con người, chỉ có những bàn tay chân thành tìm đến nhau, nắm chặt mới có thể xua tan được lòng thù hận, đố kỵ, sự hoang lạnh:

“Ngậm ngùi ta gọi cỏ cây

Che che dắt ngọn gió gày đi hoang

Gọi mình ở cõi mang mang

Thõng tay cùng với trăng vàng uống nhau”

(Gọi)

“Cập bến cạn trọn ân tình ăm ắp

Mặc trái ngang đắng chát ở vườn đời

Quả cay cực bóc vỏ mình để ngọt

Hạt đau buồn buông thả xuống mây trôi”

(Phiêu)

Có thể thấy, “Miền hương” của Nguyễn Đình Di vẫn thức dậy khi chiều đã muộn. Như mỗi khi thủy triều đã lùi xa để lại bãi bờ trải dài thoai thoải, thi sỹ đã đặt từng bước chân mình lên đó, in rõ dấu vết, lún sâu xuống cát: “Mặt trời vùi vào ngực em tĩnh lặng” (Khoảng vắng). Đây là câu thơ tình hay và hiếm hoi trong tập thơ này. Nó đem đến cho bạn đọc sự nồng ấm, mặn mà, ngỡ như được nhấp chén trà thơm hương vị đất đai bên hiên một căn nhà vắng, hay trong góc một khu vườn yên tĩnh chốn thôn dã. Viết đến đây tôi bỗng nhớ câu thơ tình khác nữa của Nguyễn Đình Di đã in ở tập thơ trước:

“Tôi lạy hoa trặc trìu đừng thơm day dứt nữa

Anh sẽ nói được lời chưa kịp nói em nghe

Trong hương trặc trìu tóc bạc đã như mê”

(Hoa trặc trìu)

Hơn hai mươi năm trước đây, tôi thích bài thơ “Hoa trặc trìu” của Nguyễn Đình Di khi nhà thơ mới công bố, thích nhất cái âm hưởng của nó trong âm sắc tiếng Việt. Sau đó tôi đã cất công đi tìm loài hoa có tên lạ này. Ban đầu tôi cứ ngỡ loài hoa mà nhà thơ viết trong bài thơ là cây chặc chìu thường mọc ở miền Trung, có nhiều cành, lá hình bầu dục, mép có răng cưa, hoa màu trắng mọc thành chùm… Nhưng không phải thế! Đến tháng 12 năm 2016, trong bài “Tản mạn thơ” nhà thơ đã tâm sự: “có người quy kết tôi viết sai “chạc chìu” thành “trặc trìu”. Không phải đâu. Tôi đã viết “trặc trìu” với cảm thức về một chuyện trình lỡ dở (trắc trở, trục trặc) với cảm xúc tiếc thương trìu mến sau khi ngẫm ngợi về âm và nghĩa, sự diệu kỳ của tiếng Việt”. Vậy là “con trai” Nguyễn Đình Di đã ngậm được “viên ngọc” quý tuyệt đẹp, báu vật ấy được hình thành và lớn dần lên bên trong thân thể loài nhuyễn thể. Đến mùa đông năm Tân Mão (2011) “hoa trặc trìu” của Nguyễn Đình Di lại tiếp tục nở:

"Em có biết hoa trặc trìu ở đâu không?

Cái loài hoa cơn mê tôi gọi được"

(Hoa trặc trìu vẫn nở)

Và, trong tập thơ “Miền hương thức” này, nhà thơ lại hai lần tặng “hoa trặc trìu” cho bạn đọc yêu mến thơ ông:

“Rượu đời xót rễ cỏ hoa

Trặc trìu thơ níu trăng và mây bay”

(Bạn đời)

“Trặc trìu hoa trái tim mình

Nở từ thắt buộc nghĩa tình người xa

Chạc chìu dây. Trặc trìu hoa

Cây sương gió nhập thơ nhòa khói nhang

Hương loài hoa xứ nhỡ nhàng

Mượn thơ ngâm khúc dịu dàng gọi nhau”

(Tên hoa)

“Miền hương thức” với cách viết dung dị, luôn trung thành với thi pháp truyền thống của thế hệ nhà thơ Nguyễn Đình Di, đã mang đến cho bạn yêu thơ lời tâm sự nhẹ nhàng, thấm sâu mà giản dị. Tập thơ cũng như lời tiên tri của nhà thơ ước đoán được cung mệnh mình. Trong bài thơ “Khúc tạ từ”, Nguyễn Đình Di thanh thản nhẹ nhõm cảm nhận về một đời sống khác khi ông phải rời xa cõi tạm, thấy được sự yêu tin nồng hậu của người thân, đồng nghiệp dành cho mình, thấy cả sức lan tỏa của những con chữ nóng ấm đầy thân phận đến được trái tim bạn đọc:

“Mai rồi chiếc lá lìa cành

Xác về tro bụi hồn xanh mây trời

Câu thơ hoang hoải thảnh thơi

Hoàn nguyên nhập trái tim người ngân nga”

“Miền hương” ấy đã mở ra cho chúng ta một thế giới tuyệt đẹp, với nắng vàng, mạn thuyền, bao nhiêu gió, rượu ngon, hoa giấy rụng, tiếng chim tu hú, tường rêu, dúm muối, nước mắt, viên thuốc, bờ cỏ lau, chân mây…, và với những bông “hoa trặc trìu” rất đáng yêu để làm nên một cõi thơ Nguyễn Đình Di mê đắm, nhân hậu, chân thành. Tôi cũng như bao bạn đọc đã được thức cùng “Miền hương” ấy, được chia sẻ và trải nghiệm cùng ông, biết được ông luôn kiên nhẫn vượt lên mọi thử thách, sự khắc nghiệt của số phận, chống đỡ mọi khăm ác của đời sống để sống thật đẹp, để sáng tạo và dâng hiến. Phải chăng Nguyễn Đình Di luôn tự biết mình, và bạn đọc cũng đã cảm nhận và chứng kiến, nhà thơ tựa một kẻ du ca đắm say, bàn chân tướp máu “hát trên con thuyền kẹt lái” (Ai biết) để đến được cõi thơ.

Hải Phòng, 11/10/2017

M.V.P

_________
* Nhà thơ Nguyễn Đình Di đã xuất bản 5 tập thơ, gồm: “Giấc mơ cây” (Nxb. Hải Phòng, 2001), “Cỏ khát” (Nxb. Hải Phòng, 2006), “Trường ca Lộ trình” (Nxb. Hải Phòng, 2008), “Tín chấp” (Nxb. Hải Phòng, 2011), “Vườn gió mặn” (Nxb. Hải Phòng, 2015).

Rừng già - Trung Trung Đỉnh


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Rừng già” của nhà văn Trung Trung Đỉnh in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Từ những biến thức của thi ca đến thơ cách tân ở Hải Phòng - Đàn Nguyên Các


Hải Phòng là vùng đất giàu hoạt chất thi ca, mang phong vị rất riêng, thời nào cũng có những con người tâm huyết góp sức cho thơ không ngừng biến đổi, hòa nhịp sự phát triển của văn học nước nhà… Thơ cách tân cũng vậy, đã có những tác giả được đánh giá là đổi mới có nguồn cội, có kiến năng…

VHP trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Công Nam dưới bút danh Đàn Nguyên Các.

Đọc thêm...

Tấm lòng người phụ nữ trong bài thơ "Tiếng hát" - Nguyễn Sĩ Đại


“Sự cao cả, tình yêu thương chân thành là một bản chất của người phụ nữ Việt Nam… Tình yêu lớn có thể hóa giải được mọi mâu thuẫn trong gia đình, làm nên cái đẹp, cái cao quý trong cuộc đời!”. Đó là sự phát hiện, đúc kết của nhà thơ Nguyễn Sĩ Đại khi đọc bài thơ “Tiếng hát” của nhà thơ Đàm Khánh Phương.

VHP xin trân trọng giới thiệu cùng bạn đọc.

Đọc thêm...

Một nhân cách, một tâm hồn - Phạm Ngà


Nhà thơ Trần Quốc Minh vừa ra đi ở tuổi 75, nhân cách và tâm hồn ông đã để lại trong lòng người thân và bạn đọc những ấn tượng khó có thể phai mờ.

VHP trân trọng giới thiệu bài viết của nhà thơ Phạm Ngà về người bạn tâm giao của mình.

Đọc thêm...

Người "bắc cầu dải yếm" ra thế giới - Vũ Quốc Văn


Nhà thơ Trần Quốc Minh vừa ra đi ở tuổi 75. Nhưng bản lĩnh, nghị lực và ý chí vượt lên số phận và niềm đam mê văn chương của ông luôn được mọi người nể trọng.

VHP xin trân trọng giới thiệu bài viết của nhà văn Vũ Quốc Văn.

Đọc thêm...

Bộ ba Xe Pháo Mã thơ đất Cảng một thuở - Đặng Huy Giang


Nguyễn Tùng Linh là nhà thơ thuộc thế hệ chống Mỹ. Ông tự khẳng định mình vào những năm 70 của thế kỷ trước. Cùng thời với ông còn có hai nhà thơ khác: Thanh Tùng và Thi Hoàng. Bộ ba thơ này thuộc "nhóm Hải Phòng" và được làng thơ coi là bộ ba xe - pháo - mã thơ của đất cảng một thuở. Nguyễn Tùng Linh nhớ lại: "Lúc ấy, cả tôi và Thanh Tùng, Thi Hoàng, tất nhiên đều không nhiều tuổi như bây giờ. Thanh Tùng sinh năm 1935 (44 tuổi). Thi Hoàng sinh năm 1943 (36 tuổi). Còn tôi sinh năm 1946 (33 tuổi). Không biết từ 33 tuổi trở lên, có còn được coi là nhà thơ trẻ nữa không? Theo tôi, Thanh Tùng là người có tâm hồn thơ và bản năng thơ mạnh mẽ; Thi Hoàng là người thông minh, giàu sức nghĩ; còn tôi thì tự nhận mình là người mạnh mẽ và thơ tôi luôn ngổn ngang hiện thực đời sống".

Đọc thêm...

Trường Sa ngày trở về - Bút kí của Lê Mạnh Thường


Hiện diện ở Trường Sa để rồi có được những kỉ niệm mang theo suốt hành trình của cuộc đời. Đó là mong muốn chung của mỗi người dân đất Việt.
VHP trân trọng giới thiệu bút kí “Trường Sa ngày trở về” của nhà văn Lê mạnh Thường.

Đọc thêm...

Tôi và hai người lính Tây - Tùng Điển


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Tôi và hai người lính Tây” của nhà văn Tùng Điển in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Bí mật rừng chiến địa - Phạm Quang Đẩu


Từ sau năm 1945 đến nay, nền văn chương nước nhà luôn được tô đậm bởi một đội hình nhà văn - chiến sĩ trưởng thành từ trong khói lửa của cách mạng và chiến tranh. Nhằm giữ gìn và phát huy những giá trị làm nên bản sắc văn chương nước nhà, mới đây Hội Nhà văn Việt Nam cho xuất bản Tuyển tập văn xuôi và Tuyển tập thơ thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Kỳ này vanhaiphong.com xin được giới thiệu cùng bạn đọc truyện ngắn “Bí mật rừng chiến địa” của nhà văn Phạm Quang Đẩu in trong Tuyển tập văn xuôi thế hệ nhà văn chống Mỹ cứu nước.

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
Pha và Ny là con của cô lao công trước kia làm ở trường này, Pha được học...
Hình ảnh
Hội thảo “Tác phẩm hay - đích đến và giải pháp” do Liên chi hội Nhà văn...
Hình ảnh
Mới đây Hội Nhà văn Hải Phòng vừa tổ chức chương trình Bàn tròn văn chương...
Hình ảnh
Để diều mẹ bay lên được thì phải “chạy mồi”. Lúc này, người cầm dây...
Hình ảnh
Từ chiều tối Thứ Sáu - ngày 14 và sáng Thứ Bảy - ngày 15/9/2018 (tức mùng 5 và...
Hình ảnh
Nhưng tình hình cũng đã rõ. Đâu đâu cũng nghe đồn rằng phe công nhân đang...
Hình ảnh
– Cô nhầm rồi! Thần trừng phạt lại nói. – Anh ta đã chết quá sớm. Sống...
Hình ảnh
Do đó, sự nhầm lẫn như đã nói trên là rất dễ hiểu và theo tôi, tác giả ...
Hình ảnh
- Tôi không biết lấy ggì đền đáp ơn anh. Hôm qua chúng tôi làm lễ thành hôn...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay1535
mod_vvisit_counterHôm qua3686
mod_vvisit_counterTất cả10829619
Hiện có 264 khách Trực tuyến