Chương trình sách giáo khoa ngữ văn mới

Hội nhà văn Việt Nam, Hội đồng lý luận Trung ương và các nhà giáo đã tổ chức nhiều cuộc hội thảo khoa học, nhiều buổi tọa đàm đóng góp ý kiến  cho chương trình nội dung sách giáo khoa Ngữ văn mới đang được thiết kế theo hướng lựa chọn dạy học các thể loại lớn (thơ, truyện, ký, kịch) chứ không theo trục lịch sử văn học như trước đây.

Đọc thêm...

Quan hệ giữa hiệu ứng “dồn nén” và nghệ thuật “không bạch” trong thơ ca cổ điển Trung Quốc

TS. Trần Văn Trọng


Trong quá trình sáng tạo nghệ thuật thơ ca cổ điển phương Đông, các tác giả đã cố ý làm mất hoặc hư hoá một vài phương diện của hình tượng nghệ thuật, loại tưởng tưởng nghệ thuật này được gọi là nghệ thuật “không bạch” (空白艺术) hay nghệ thuật tạo “khoảng trống/trắng” trong văn bản thơ. Nghệ thuật “không bạch” chính là yếu tố mà ngày nay chúng ta gọi là hứng thú hoặc xa hơn là nguyên lí “tảng băng trôi” trong tiếp nhận nghệ thuật. Còn hiệu ứng “dồn nén” (tension) được các nhà phê bình văn học Âu Mỹ đề cập đến từ thập niên 1980. Hai phạm trù lí luận này rất quan trọng đối với lĩnh vực nghệ thuật thơ ca, đặc biệt thơ ca cổ điển Trung Quốc. Với người nghệ sĩ việc vận dụng thành thạo những phương diện này trong sáng tác sẽ đem lại lợi ích không nhỏ trên phương diện sáng tạo,với độc giả cũng như nhà nghiên cứu việc thấu triệt chúng cũng đem lại những hứng thú thẩm mĩ trong quá trình đọc và tiếp nhận. Hai phương diện này mặc dù có nguồn gốc ra đời, thời gian xuất hiện cách xa song không phải không có những mối liên hệ. Bài viết trên cơ sở biểu hiện của nghệ thuật “không bạch” trong thi ca cổ điển Trung Quốc, tiến hành so sánh phân tích mối quan hệ giữa hai phạm trù lý luận thi ca này.

1. “Không bạch” là một phạm trù lý luận nghệ thuật được các nghệ sĩ thời trung đại sử dụng vừa tự giác vừa phi tự giác trong nhiều loại hình nghệ thuật, đặc biệt là với nghệ thuật thi ca, nghệ thuật thư pháp và nghệ thuật hội họa. Nhà lý luận nghệ thuật đời Thanh Phạm Cơ từng bàn đến vấn đề “hư thực” của hội họa: “Họa có chỗ hư chỗ thực. Hư ở chỗ sáng, thực ở chỗ tối vậy. Người biết chỗ không dùng bút mực là hư, không biết chỗ thực cũng là không xa rời cái hư, tức như bút viết trên giấy có hư có thực, rất linh hoạt. Mà càng không biết chỗ không dùng bút là thực, bút chưa đến mà ý đã đến rồi. Cái mà Âu Hướng gọi là hư ở chỗ thực tức là sự thông suốt linh hoạt. Kịp khi chỗ mây khói che lấp ấy là không bạch(1).Trương Thức còn nói “hội họa là nghệ thuật không bạch”. Ông viết “tô màu mây khói là khí lưu hành của hội họa, xưa gọi là không bạch, không phải là giấy trắng – không bạch tức là họa(2). Nghệ thuật thư pháp Trung Quốc cũng cường điệu nguyên tắc “dĩ bạch vi hắc” khi cho rằng “tranh chữ chỗ thưa ngựa có thể chạy, chỗ dày gió chẳng thể xuyên qua, thường dùng trắng làm đen, hứng thú kỳ lạ sinh ra”(Đặng Thạch Như). Thi ca cổ điển Trung Quốc có mối liên hệ mật thiết với thư pháp, đặc biệt là hội họa do cùng kiểu tư duy, quan niệm thẩm mĩ về cái đẹp, do đó cũng là một kiểu nghệ thuật “không bạch”. Tuy nhiên, khác với ngôn ngữ hội họa và thư pháp cổ điển dùng màu đen và đường nét để biểu hiện “hư thực” nhằm tạo nên “khoảng trống” (không bạch), thi ca dùng hình thức biểu hiện của văn bản ngôn từ để cấu thành ký hiệu, tín hiệu thẩm mĩ và đề cập đến nhiều phương diện từ nội dung, kết cấu, phương thức biểu đạt, ngôn ngữ và phương thức tu từ. Để làm được điều này, nghệ thuật “không bạch” trong thi ca cổ điển được tạo bởi ba phương thức sau: kết cấu không bạch, ngữ nghĩa không bạch và cú pháp không bạch.

1.1. Kết cấu không bạch

Kết cấu “không bạch” là “khoảng trống” trong cấu tạo, tổ chức văn bản mà tác giả cố ý để lại. Người đọc thông qua tiếp nhận phá vỡ phương thức kết cấu văn bản thơ mà thu được cảm thụ thẩm mĩ tích cực từ sự đan xen, chuyển tiếp và lật ngược kết cấu chương pháp tự nhiên của bài thơ. Trình tự kết cấu chặt chẽ của thơ làm ý tứ biến hóa linh hoạt, duy chỉ có không gian, thời gian, sự mở rộng không gian, thời gian, sự đan xen và giao thoa giữa hình tượng hiện thực và ảo tưởng của thế giới nghệ thuật, những đoạn và mối liên hệ logic giữa các đoạn với nhau còn lưu lại để đợi độc giả bổ sung ý nghĩa vào “khoảng trống” đó. Lấy ví dụ bài thơ Oán tình (怨情) của Lí Bạch là một loại kết cấu không hoàn chỉnh tạo nên “kết cấu không bạch”.

 

Mỹ nhân quyển châu liêm,

Thâm toạ tần nga my.

Đãn kiến lệ ngân thấp,

Bất tri tâm hận thuỳ?

 

Dịch nghĩa:

Người đẹp cuốn chiếc rèm ngọc,

Ngồi thật lâu, ủ rũ mày ngài.

Chỉ thấy nước mắt đẫm ướt,

Không biết lòng nàng đang giận ai đây?

Toàn bài thơ chỉ có 4 câu với 20 chữ mà khắc họa nhân vật có thể nói là tỷ mỉ, tinh tế, lột tả được thần thái sống động của mỹ nhân. Song từ góc độ kết cấu mà nói thì không đầy đủ, hoàn chỉnh vì mới chỉ tả trạng thái tình cảm của mĩ nhân mà thôi. Vấn đề của người nghệ sĩ ở đây là, không tả hay không cần tả? Không phải là tác giả tả không ra mà là cố ý không tả, cố ý lưu lại để độc giả tự chiêm nghiệm, suy ngẫm ý vị hàm súc sâu xa. Đây chính là kiểu kết cấu “bất toàn chi toàn”(不全之全- không hoàn chỉnh mà lại hoàn chỉnh) trong kết cấu không bạch. “Bất toàn chi toàn” đã cấu thành hình tượng kết cấu không hoàn chỉnh tạo nên cái hư vô của không gian, là một loại “vô” của nghệ thuật không bạch.

Kết cấu “không bạch” còn một dạng biểu hiện nữa là sự tỉnh lược tạo nên khoảng trống trong thơ. Là một “bộ phận vô hình” trong kết cấu hoàn chỉnh của hình tượng nghệ thuật, tỉnh lược là yếu tố “hư ảo” của “không bạch”, mà “hư” cũng chính là “thực”. Có thể lấy ví dụ sự tỉnh lược trong bài Xuân hiểu (春曉), Mạnh Hạo Nhiên đã tạo nên khoảng trống, mờ hóa nghĩa làm cho thơ trở nên lung linh huyền diệu. Bài thơ miêu tả cảm giác sung sướng thoát tục của ẩn sĩ gửi mình trong thiên nhiên. Cảm giác thoát tục đó được tạo bởi ấn tượng một người vừa mới thức giấc. Vừa mới thức giấc nên tâm trí còn đang lẫn lộn trong trạng thái nửa tỉnh nửa thức. Câu đầu cho thấy trạng thái vừa thức giấc của chủ ngữ hàm ẩn (xuân miên bất giác hiểu). Ba câu sau trình hiện ba lớp tri giác của người vừa mới ngủ dậy: hiện tại (tiếng chim kêu ríu rít); qúa khứ (tiếng gió mưa), tương lai (dự cảm niềm sung sướng mơ hồ được ngắm những cánh hoa rơi trên mặt đất). Dịch giả nếu quan tâm đến sự “sáng rõ” của ngôn ngữ đích mà dịch thành “vào mùa xuân khi tôi đang ngủ/khắp nơi quanh tôi,tôi nghe tiếng chim kêu/đêm hôm qua tôi nghe thấy tiếng gió mưa/và tôi tự hỏi không biết hoa rụng nhiều hay ít”,  thì đã thể hiện cái trạng thái chủ thể thức tỉnh hoàn toàn, đã ra ngoài trạng thái nửa ý thức ấy mà bình luận. Còn cái hay của sự tỉnh lược ở đây trong bản gốc là tạo trạng thái mơ hồ không phân biệt được giữa tiềm thức và nhận thức, giữa đêm và ngày, giữa ngủ và thức làm tiền để cho khả năng đồng hiện các lớp tri giác như đã nói trên(3). Sự tỉnh lược trong thi ca cổ điển thường tạo nên phương thức biểu đạt “hư thực tương sinh”, đó cũng là một dạng nghệ thuật không bạch. Trong đó, “hư” biểu hiện tính trừu tượng của hình tượng nghệ thuật còn “thực” biểu hiện tính cụ thể của hình tượng.Độc giả có thể thông qua phần tả thực, tả hư mở rộng liên tưởng hoặc phỏng đoán có thể hình dung một hình tượng nghệ thuật hoàn chỉnh.

1.2. Ngữ nghĩa không bạch

Ngữ nghĩa “không bạch” được sản sinh bởi sự cộng sinh của từ ngữ dựa trên tính chất đa nghĩa. Xét trên bình diện ngôn ngữ nói chung, trong mỗi ngữ cảnh từ ngữ chỉ có một hàm nghĩa xác định.Nhưng trong ngôn ngữ thi ca tính quy phạm bị phá vỡ, đồng thời phương diện biểu đạt ý nghĩa của từ ngữ hàm chứa một sức nặng ngầm ẩn, dẫn đến sự hình thành tính phi xác định và “khoảng trống” của từ ngữ. Nhà Phê bình Mới William Empson cho rằng hiện tượng đa nghĩa của từ ngữ cần phải được nghiên cứu tỉ mỉ. Trong công trình nổi tiếng “Bảy loại nghĩa mơ hồ”(4) ông đã đề xuất bảy đặc trưng đa nghĩa của ngôn ngữ thơ: thứ nhất, mỗi một câu nói hay một chi tiết nào đó cùng lúc đều có một số ý nghĩa; thứ hai, có thể lựa chọn hai hoặc hơn hai ý nghĩa đan xen cùng nhau; thứ ba, mỗi từ ngữ hay mỗi câu nói hoàn toàn không có tương quan về ý nghĩa; thứ tư, sự lựa chọn ý nghĩa chung trong các loại nghĩa cho thấy trạng thái phức tạp của tư tưởng tác giả; thứ năm, trong sáng tác của tác giả nảy sinh một loại tư tưởng nào đó mà chính tác giả cũng không hề biết; thứ sáu, ý thơ thường mâu thuẫn nhau, độc giả cần phải giải thích bổ sung; thứ bảy, ý thơ hoàn toàn mâu thuẫn đến tác giả cũng không hiểu nổi. Ngoài những đặc trưng mơ hồ về nghĩa như William Empson đã đề cập ở trên, thơ cũng có thể thông qua ẩn dụ, chơi chữ, gợi ý, hoán dụ, mỉa mai để hình thành ý nghĩa “không bạch”. Có thể lấy việc sử dụng phương pháp tu từ của hai bài thơ sau:

 

Dương liễu thanh thanh giang thuỷ bình, 
Văn lang giang thượng đạp ca thanh. 
Đông biên nhật xuất tây biên vũ, 
Đạo thị vô tình hoàn hữu tình.

(Lưu Vũ Tích - Trúc chi từ)

Dịch nghĩa:

Cây dương liễu xanh xanh, nước sông phẳng lặng, 
Nghe tiếng chàng hát hò trên sông.
Phía đông mặt trời mọc, phía tây thì trời mưa,
Bảo rằng không tạnh mà lại tạnh.

 

 

Thủy dục thức lang thì

Lưỡng tâm vọng như nhất.

Ly ty nhập tàn ky,

Hà ngộ bất thành thất.

(Thơ Nhạc phủ - Tý dạ ca)

Dịch nghĩa:

Thuở đầu mình mới biết ta,

Những mong hai trái tim là một thôi.

Tơ trên khung cửi rối bời,

Vì sao chẳng hẹn lứa đôi hỡi chàng.

Trong câu thứ tư bài Trúc chi từ của Lưu Vũ Tích, từ “tình” (晴) đứng trước có nghĩa là “tạnh” (trời tạnh, mưa tạnh), từ “tình”(情) đứng sau là từ đồng âm với từ “tình” trước nhưng có nghĩa là “tình cảm”, “tình nghĩa”. Câu trước thu được ý nghĩa trực tiếp, câu sau đòi hỏi độc giả phải suy nghĩ bổ sung thêm vào. Chữ “thất” (匹) (hà ngộ bất thành thất) trong bài Tý dạ ca vừa có nghĩa là “tấm vải” lại vừa ám chỉ sự xứng đôi; Chữ “ty”(丝) (ly ty nhập tàn ky) là sợi tơ dùng để dệt nên tấm vải lại vừa đồng âm với “tư” (思)có nghĩa là “nhớ”, một chữ hàm chứa hai ý nghĩa

1.3. Cú pháp không bạch

So với quy tắc và sự phối hợp ngôn ngữ nhật dụng thì phương thức “cú pháp không bạch” trong ngôn ngữ nghệ thuật có sự đột phá hoặc có ý nghĩa ngược lại. Thông qua thành phần lược bỏ của cú pháp (chủ ngữ, vị ngữ, tân ngữ) tạo thành một loại cú pháp không xác định trạng thái hay thông qua sự kết hợp bất thường (như đưa tân ngữ lên trước, đảo chủ ngữ, vị ngữ...) ý nghĩa cú pháp thay đổi hình thành ý nghĩa không bạch. Ví dụ hiện tượng tỉnh lược đại từ nhân xưng trong câu thứ nhất trong bài Lộc sài (鹿柴) của Vương Duy (không sơn bất kiến nhân) khiến chủ ngữ hàm ẩn bị lược bỏ, nhưng trạng ngữ địa điểm lại có khả năng biến thành chủ ngữ của câu. Ở đây, “không sơn” là trạng ngữ địa điểm (trong núi vắng) đã biến thành chủ ngữ trong cú pháp của câu thơ, tuy nhiên, chủ ngữ thực sự của hành động “bất kiến” là chủ ngữ hàm ẩn. Hiện tượng chủ ngữ hàm ẩn thực sự bị lược bỏ và chủ ngữ hoá trạng ngữ trong câu thơ đã đem đến một sự đồng nhất giữa “không sơn” với nhân vật trữ tình (chủ ngữ hàm ẩn).Việc tỉnh lược trong thơ cổ, một mặt do yêu cầu của thi luật về câu chữ, nhưng điều quan trọng hơn, tỉnh tược còn hướng đến việc diễn đạt ý tứ nằm ở “khoảng trống” ngôn từ như trường hợp câu thơ thứ 4 bài Thường Nga (嫦娥) của Lí Thương Ẩn (bích hải thanh thiên dạ dạ tâm). Bài thơ này kể tích Thường Nga bị nhốt trên cung trăng, giữa biển biếc, trời xanh, đêm đêm lòng xót xa cho mối tình. Câu 4 của bài tuyệt cú hoàn toàn bị tỉnh lược động từ, chỉ còn lại danh từ: bích hải, thanh thiên, dạ dạ tâm. Nhờ sự tỉnh lược động từ mà câu thơ có sự tĩnh lặng hoá, không gian, thời gian như ngừng trôi, ngưng đọng lại trên nền cái xao động của cõi lòng đầy bồn chồn, khắc khoải (dạ dạ tâm) của Thường Nga.

Như vậy, thông qua hoạt động của từ loại trong cú pháp thơ mà sinh ra một dạng hiệu ứng mơ hồ hoặc ý nghĩa cảm ứng phức hợp. Trong ngôn ngữ hàng ngày, đó là chỗ thiếu logic so với thực tế biểu đạt, nhưng trong ngôn ngữ nghệ thuật, đó lại là loại ngôn ngữ thích hợp với nghệ thuật không bạch. Những câu thơ như “hồng hạnh chi đầu xuân ý náo” (Ngọc lâu xuân - Tống Kỳ) và câu “vân phá nguyệt lai hoa ảnh lộng” (Thiên tiên tử - Trương Tiên) được coi là “thần cú” bởi chữ “náo” (闹) và chữ “lộng” (影) đã phối hợp theo cách bất thường tạo ra hiệu quả nghệ thuật chưa từng thấy, để lại cho người đọc hứng thú và khoảng trống cảm thụ.

2. “Dồn nén” (tension) có khi được dịch là “sức căng” “độ căng” “lực căng”là thuật ngữ được nhà phê bình mới người Mĩ Allen Tate đề xuất. Ông viết: “tôi đề xuất thuật ngữ dồn nén, tôi không xem nó như một phép so sánh mà coi nó là hai đặc điểm riêng, ấy là cái logic học gọi là “nội hàm” và “ngoại diên” được hình thành là nhờ lược đi tiền tố. Tôi gọi ý nghĩa của thơ là dồn nén. Chúng ta có thể phát hiện trong thơ ca chỉnh thể hữu cơ giữa toàn thể bên ngoài và sắc thái bên trong. Chúng ta có thể thu được ý nghĩa ẩn dụ sâu sắc mà không hề làm tổn hại tác dụng biểu đạt bên ngoài con chữ. Hoặc chúng ta có thể biểu đạt ý nghĩa phức tạp theo nghĩa bắt đầu từ bước phát triển ẩn dụ. Ở mỗi bước, chúng ta có thể dừng lại để giải thích ý nghĩa của nó một lèo”(5). Vì vậy, trong một bài thơ hay trong một câu thơ, nội hàm và ngoại diên được cấu thành bởi hai tầng ý nghĩa song song, tức ý nghĩa hàm ẩn của thơ và ý nghĩa bề mặt của ngôn từ thơ. Sự dồn nén của thơ nằm ở giữa hai tầng ý nghĩa song song này. Sự tồn tại của hai loại ý nghĩa này kích thích hứng thú thẩm mĩ khiến độc giả từng bước nghiên cứu ý vị hàm ẩn thâm sâu của thi ca, từ đó mà sản sinh ý nghĩa liên tưởng phong phú cấu thành sức hấp dẫn nghệ thuật, đó là hiệu ứng “dồn nén” của thơ. Những câu thơ, bài thơ mà ý nghĩa của nó hiển lộ trực tiếp trên bề mặt ngôn từ đều không có khả năng tạo nên hiệu ứng “dồn nén”. Sự “dồn nén” ý nghĩa hàm súc của thơ chỉ tồn tại trong kết cấu đa dạng, đa tầng, phức tạp mới tạo nên vẻ đẹp thẩm mĩ, tính chất lung linh, mơ hồ của thơ. Lấy ví dụ bài Đề Tây Lâm Bích(題西林壁) của Tô Đông Pha:

 

Hoành khán thành lĩnh trắc thành phong,
Viễn cận cao đê các bất đồng.
Bất thức Lư sơn chân diện mục, 
Chỉ duyên thân tại thử sơn trung.

 

Dịch nghĩa:

Nhìn ngang thành dãy, nhìn nghiêng thành chỏm, 
Do đứng xa, gần, cao, thấp, mà mỗi nhìn mỗi khác. 
Không biết diện mạo thật của núi Lư nó thế nào, 
Ấy bởi người nhìn đang đứng ngay trong núi ấy
.

Ý nghĩa “nội hàm” của bài thơ nằm ở những góc độ khác nhau xem xét sự không giống nhau của sự vật, khiến nhận thức sự vật toàn diện mà không phiến diện, hoàn chỉnh mà không rời rạc...từ diện mạo đến chân tính sự vật. Tài năng của Tô Đông Pha được thể hiện trong tả diện mạo thần kỳ đa sắc thái của núi Lư Sơn. Trong mấy tầng ý nghĩa này, độc giả cảm thấy có hứng thú, dư vị vô cùng. Hiệu ứng “dồn nén” của bài thơ vì thế khá mạnh.

3. Từ những trình bày ở trên về nghệ thuật “không bạch” và hiệu ứng “dồn nén” của thơ ca, có thể thấy rằng đó đều là kết quả của cấu tứ nghệ thuật của tác giả. Cả hai điều này đều yêu cầu độc giả phát huy sức tưởng tượng, tiến hành tái tạo không giới hạn ý nghĩa bề mặt của ngôn từ thơ trong sự liên tưởng, suy luận, phỏng đoán mà thu được hứng thú nghệ thuật, đặc biệt sự phát hiện một số loại hàm ý nào đó về phương diện tình cảm hoặc triết lý. Trong nghệ thuật “không bạch” của thi ca, một vài cảnh huống bị tác giả cố ý bỏ qua hay việc miêu tả mù mờ hư ảo là để tạo khoảng trống tưởng tượng, huy động liên tưởng của độc giả vào việc bổ sung ý nghĩa khuyết thiếu của hình tượng nhằm đạt đến hiệu quả nghệ thuật “không dùng chữ mà vẫn đạt ý tứ thâm sâu”. Tạo lập hiệu ứng “dồn nén” của thơ cũng giống như sự chuyên tâm của nhà thơ vào cấu trúc thơ làm cho thơ ngoài ý nghĩa bề mặt ra còn biểu hiện nhiều ý nghĩa hàm ẩn, để độc giả men theo ý nghĩa bề mặt, đi sâu khai thác ý nghĩa tiềm ẩn đa tầng, lĩnh hội ý tượng hàm súc thâm thúy.Từ hiệu quả biểu đạt mà xét thì nghệ thuật “không bạch” hay hiệu ứng “dồn nén” đều là hình thức nghệ thuật lấy ít nói nhiều, lấy đơn giản nói phức tạp, từ đơn giản dễ hiểu mà thấy được độ thâm sâu, cả hai điều này đều khiến cho độc giả nghiền ngẫm dư vị “ý ở ngoài lời” của thơ.

Tuy nhiên, nghệ thuật “không bạch” và hiệu ứng “dồn nén” của thơ cũng có một vài điểm khác biệt rõ ràng. Điểm thứ nhất, nghệ thuật “không bạch” chủ yếu là nằm ở phương tiện nghệ thuật, tức mục đích thiết kế “không bạch” không phải để nó trống rỗng, mà là thông qua khoảng trống đó đạt tới sự hàm súc phong phú; trong khi đó, “dồn nén” lại là mục đích nghệ thuật, tức sự “dồn nén” của thơ sẽ sinh ra hiệu ứng lực tác động trong tiếp nhận nghệ thuật. Điểm thứ hai, về mặt phạm vi biểu hiện có chỗ không giống nhau.Giới hạn của nghệ thuật “không bạch” nằm ở nội hàm hình tượng nghệ thuật, tác giả phát huy sức tưởng tượng của độc giả để bổ sung ý nghĩa còn khuyết thiếu mà không được vượt quá giới hạn tưởng tưởng về hình tượng. Trong khi đó, hiệu ứng “dồn nén” của thơ không chỉ dựa vào nghĩa bề mặt của ngôn từ thơ mà còn mở rộng ra ngoài phạm vi đó, tiến đến ý nghĩa hàm súc, liên tưởng của ngôn từ. Hiệu ứng này có mạnh mẽ hay không phụ thuộc vào năng lực thẩm mĩ, sự tu dưỡng và lịch duyệt, kinh nghiệm không giống nhau ở mỗi người. Vì thế mà phạm vi tưởng tượng cũng không thể xác định rõ.

Chúng ta hãy lấy hai bài thơ sau để xem xét sự không giống nhau giữa nghệ thuật “không bạch” và hiệu ứng “dồn nén” của thi ca. Bài thơ Chỉ hữu nhất cá nhân năng hoán tỉnh tha (chỉ có một người có thể đánh thức trái tim) của Công Lưu:

 

Ngã đích tâm phòng lý

Ái tình tại tỉnh thụy.

Chỉ hữu nhất cá nhân năng hoán tỉnh tha,

Ngã bất tri đạo giá cá nhân thị thùy?

Dịch nghĩa:

Trái tim ta như căn phòng chật hẹp,

Tình yêu ngủ hay thức.

Chỉ có một người có thể đánh thức nó,

Nhưng ta không biết đó là ai?

Bài thơ ca ngợi sự thuần khiết trong sáng của tình yêu và tác giả lấy phương thức “bất toàn chi toàn” để tổ chức thiết kế “khoảng trống”. Mở đầu bài thơ chỉ có miêu tả, không có cao trào, kết thúc, nó cung cấp cho độc giả một loại câu đố, một loại phỏng đoán suy luận về lời giải câu đố. Dưới bối cảnh đặc biệt của tình yêu, độc giả phải phát huy trí trưởng tượng để suy luận về lời giải – ý trung nhân của chàng trai sẽ đánh thức trái tim đang ngủ của chàng. Như vậy, có thể thấy tác giả đã để lại một “khoảng trống” cho độc giả bổ sung hình tượng cô gái (nhất cá nhân) trong kết cấu bài thơ. Từ đó mà xem, nghệ thuật tạo “khoảng trống” không phải là mục đích mà là phương tiện biểu hiện.

Có thể lấy mấy câu cuối trong bài Khúc ca gửi ngọn gió tây 5(6) của P.Shelley để thấy được hiệu ứng “dồn nén”:

The trumpet of a prophecy! O, Wind, 
If Winter comes, can Spring be far behind! -

(P. Shelley - Ode to the west wind 5)

Độc giả có thể men theo câu chữ tìm thấy ý nghĩa ngoại diên – sự luân phiên, đắp đổi có tính chu kỳ của tiết khí xuân hạ thu đông. Nếu cái lạnh mùa đông đã đến thì cái ấm áp của mùa xuân cũng không còn xa. Đây là tầng lớp ý nghĩa ngoại diên đơn giản, dung dị nhất mà ta có thể nắm bắt được. Tuy nhiên, dụng ý của tác giả không phải chỉ ở chỗ này. Nhà thơ đã vận dụng thủ pháp ẩn dụ tượng trưng khiến bài thơ hàm chứa ý nghĩa hàm súc cô đọng – mùa đông tượng trưng cho cái cũ thối nát đen tối cuối cùng cũng sẽ bị lật đổ, mùa đông tượng trưng cho cái chết; cái sức sống bừng bừng mạnh mẽ của mùa xuân tượng trưng cho sự sống. Câu thơ đã thể hiện được tâm ý mãnh liệt của thi nhân về sự diệt vong tất yếu của cái cũ cũng như niềm tin mãnh liệt vào cái mới. Từ nghĩa đen đến nghĩa hàm ẩn đã tạo nên sự “dồn nén” của bài thơ, làm cho độc giả đọc đến những câu cuối cùng đều cảm thấy cái dư vị vô cùng. Loại hiệu ứng “dồn nén” này là một sáng tạo, tìm tòi của các nghệ sĩ trong quá trình sáng tạo của họ.

Nghệ thuật “không bạch” là một phương tiện biểu hiện, làm nên hiệu quả nghệ thuật có mối quan hệ với hiệu ứng “dồn nén” như Gadamer từng viết “sự tồn tại của tác phẩm nằm ở chỗ chúng ta có thể thấy một cách dễ dàng nhất ở sự dồn nén giữa phô bày và ẩn tàng; dạng “dồn nén” này là một trạng thái thúc đẩy trình độ nghệ thuật biểu hiện sinh động của tác giả(7). Trong thực tiễn sáng tác, rất nhiều thi nhân đã sử dụng nghệ thuật “không bạch”. Chính sự giống nhau này đã tạo nên hiệu ứng “đồn nén” của thơ. Đó là vì, trong nghệ thuật “không bạch”, giữa lời và ý, thực và hư, ẩn tàng và phô bày, hàm súc và hiển lộ tồn tại một loạt vận động mâu thuẫn về nghĩa, từ đó tạo hiệu ứng “đồn nén” của thơ. Có thấy trích dẫn mấy câu thơ của Biện Chi Lâm:

Nhĩ trạm tại kiều thượng khán phong cảnh,

Khán phong cảnh đích nhân tại lầu thượng khán nhĩ.

Minh nguyệt trang sức liễu nhĩ đích song tử,

Nhĩ trang sức liễu biệt nhân đích mộng.

Từ kết cấu bài thơ mà nói, tuy rằng miêu tả một vài cảnh vật “kiều thượng” (trên cầu),“lầu thượng” (trên lầu), “minh nguyệt” (trăng sáng), “song tử” (cửa sổ) cùng một vài cảm xúc. Nhưng đó mới chỉ là mở đầu, không có cao trào, không có kết thúc, đó là lấy “bất toàn chi toàn” để cấu tạo “khoảng trống” của thơ, khiến độc giả từ khoảng trống đó có hứng thú và nhu cầu sáng tạo lại cái đẹp. Nghĩa đen bài thơ miêu tả một hiện tượng kỳ thú lạ thường, nhưng cố ý không giải thích. Các hình tượng “kiều” (cầu), “minh nguyệt” (trăng sáng), “song tử” (cửa sổ) được sắp đặt kỳ diệu càng tôn lên vẻ đẹp hư ảo như mộng của cảnh tạo nên bức tranh thủy mặc diệu kỳ. Thông qua ý nghĩa bề mặt ngôn từ, đi sâu tìm hiểu chúng ta có thể khám phá ý nghĩa câu “nhĩ trạm tại kiều thượng khán phong cảnh/khán phong cảnh đích nhân tại lầu thượng khán nhĩ” có thể là một giai nhân. Bởi vì, để con người trở thành phong cảnh khiến người đời mê đắm tất phải là một giai nhân tuyệt sắc.Cái đẹp trang nhã của giai nhân đãkhiến người mến mộ sâu sắc đến độ tương tư trong mộng, sáng nhớ chiều mong. Vậy mà giai nhân lại khước từ, như vậy chỉ có thể ngắm mà không thể đến gần. Trong nội tâm của nhân vật trữ tình tràn đầy nỗi buồn thương vô hạn. Đây là sự lan tỏa tầng tầng lớp lớp cảm xúc đưa thơ đến trạng thái “dồn nén” nhất định. Cấu trúc bài thơ thật kỳ diệu. Độc giả sau khi cảm thụ tầng lớp ý nghĩa ngôn từ và tầng lớp cảm xúc do thơ tạo ra có thể nghiền ngẫm dư vị triết lý đằng sau: trong thơ, giai nhân là người ngắm phong cảnh, nhưng đồng thời cũng là phong cảnh cho người khác ngắm nhìn; “minh nguyệt” tô điểm trang sức cho cửa sổ thêm đẹp, còn giai nhân lại tô điểm cho giấc mộng đẹp của người khác. Ngắm và bị ngắm, tô điểm và bị tô điểm luôn có sự chuyển hóa lẫn nhau. Và từ đó, thơ đã đem đến cho người đọc triết lý nhân sinh: sự vật tồn tại chỉ có ý nghĩa tương đối, không có gì là bất biến tuyệt đối, được và mất cũng không thể biết thế nào mà so sánh được. Sự “dồn nén” và bùng nổ ý nghĩa đa chiều qua liên tưởng, tưởng tượng của độc giả được phát huy tối đa nhờ cấu tạo “khoảng trống” trong thơ.

Như vậy, nghệ thuật “không bạch” và hiệu ứng “dồn nén” tuy có nguồn gốc văn hóa, thời gian phát sinh khác nhau song đều có mối liên hệ sâu sắc. Dù có nguồn gốc từ hai nền lí luận nghệ thuật phương Đông - phương Tây, nhưng “không bạch” hay “dồn nén” đều quan tâm đặc biệt đến khả năng tổ chức ngôn từ nghệ thuật đặc biệt của thơ để tạo nên tính đa nghĩa, hàm súc, liên tưởng, rộng mở để “dồn nén” ý nghĩa đa tầng làm nên sức hấp dẫn mơ hồ, lung linh của thơ.

Chú thích:

(1)范玑(2000),”过云庐论画山水”,见俞剑华编著中国古代论类编(修订本),人民美术出版社,第925页。

(2)张式(2000),“画谭论画山水”,见俞剑华编著:”中国古代论类编”(修订本),人民美术出版社, 第994 页.

(3)Trần Văn Trọng (2015), Giáo trình Thi pháp thơ Đường, Nhà xuất bản ĐHQGHN, HN, trang 241-242.

(4)Xin xem W.Empson (2004), Seven types of ambiguity, Wintage publishing, London.

(5)Xin xem 赵毅衡编 (1988),新批评文集,中国科学院出版社.

(6)http://www.thivien.net/Percy-Bysshe-Shelley/Kh%C3%BAc-ca-g%E1%BB%ADi-ng%E1%BB%8Dn-gi%C3%B3-t%C3%A2y-5/poem-Npr2-pgT_Y6cX-oUKtdriw

(7) 迦达默尔 (1991),”美的现实性”, 张志扬译, 北京三联书店, 第109页。

 

TVT

 

 

Nhà văn Việt Nam sum tụ trang thơ xuân Báo Hải Phòng

Trên số báo đặc biệt – số báo xuân Mậu Tuất năm nay của Hải Phòng chỉ có duy nhất 1 trang và tất cả các tác giả đều là Nhà văn Việt Nam đã và đang gắn bó với thành phố. Người biên tập dường như chủ định đem đến nhiều giọng điệu và hình thức thơ khác nhau phối hợp như bản nhạc đa thanh của cuộc sống…

Đọc thêm...

Bác Hồ làm bài thơ "Nguyên Tiêu" ở đâu?

Sông Phó Đáy là một chi lưu bên tả ngạn của sông Lô, có thượng lưu và trung lưu chảy trên địa bàn vùng núi và trung du phía Bắc, còn hạ lưu chảy trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc. Sông Phó Đáy bắt nguồn từ vùng núi, huyện Chợ Đồn, tỉnh Bắc Cạn, chảy qua các huyện Yên Sơn, Sơn Dương của tỉnh Tuyên Quang;

Đọc thêm...

Cách mạng tháng Tám và quốc khánh 2 - 9 trong cảm hứng thơ ca - Tư Hương

Trong tiến trình thơ Việt Nam từ 1945 đến nay, cảm hứng tự hào về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 luôn có một vị trí quan trọng với nhiều tác phẩm hay được tiếp nối qua các thời kỳ.


Ngay sau ngày 2-9-1945, trong niềm vui bất tận, Xuân Diệu nhanh chóng đến với thơ ca cách mạng và hân hoan chào đón nước Việt Nam mới bằng trường ca Ngọn quốc kỳ. Qua biểu tượng lá cờ đỏ sao vàng thiêng liêng của Tổ quốc được tập trung khắc họa, ông bày tỏ niềm vui sướng, hạnh phúc, nồng nhiệt trước sự “tái sinh” màu nhiệm của dân tộc bằng những vần thơ nồng nàn, say mê: “Gió reo! Gió reo! Gió Việt Nam reo!../Việt Nam! Việt Nam! Cờ đỏ sao vàng!/Những ngực nén hít thở ngày độc lập/Nguồn lực mới bốn phương lên tới tấp” (Ngọn quốc kỳ).

Cách mạng Tháng Tám thành công, mùa thu năm 1945 đi vào lịch sử dân tộc với những ý nghĩa thiêng liêng nhất. Đó là mùa thu mở ra một kỷ nguyên mới trong lịch sử nước ta, kỷ nguyên độc lập tự do và tiến lên xây dựng xã hội chủ nghĩa. Bằng niềm tin mạnh mẽ vào tương lai tươi sáng của dân tộc, Thanh Hải viết: “Mùa thu từ năm đó/Mùa thu từ bắt đầu/Cho năm tháng mai sau/Cho những ngày rực rỡ” (Mùa thu ở Huế).

Cũng trong mùa thu độc lập đầu tiên, tại miền Nam, trong niềm xúc động nghẹn ngào trước sự thành công rực rỡ của Cách mạng Tháng Tám và sự kiện các chiến sĩ cách mạng bị giam ở Côn Đảo được trở về đất liền, Bảo Định Giang có những vần thơ ngập tràn cảm xúc: “Tháng Tám mùa thu vui vận mới/Hai bờ Bảo Định rực cờ son” (Nhìn về quê ngoại).

Niềm vui độc lập đến quá bất ngờ, nhà thơ Nguyễn Đình Thi như chưa thể tin vào mắt mình trước những đổi thay lớn lao của dân tộc. Một thoáng ngỡ ngàng để rồi vỡ òa hạnh phúc, tác giả của bài Đất nước viết: “Mùa thu về bỡ ngỡ sáng nay/Gặp những chàng trai bên hồ hò reo say/Reo reo hò cờ rực rỡ đỏ ánh cây/Thoáng sao vàng nghiêng nghiêng vẫy”.

Với Tố Hữu, cánh chim đầu đàn của thơ ca cách mạng nước ta, Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 là luồng gió tươi mới thay đổi lớn lao vận mệnh dân tộc. Ông viết về ngày vui của cả nước bằng những vần thơ hào hứng, sôi nổi, ngất ngây: “Gió ơi gió! Hãy làm giông làm tố!/Cuốn tung lên cờ đỏ máu thơm tươi/Vàng vàng bay, đẹp quá, sao sao ơi !/Ta ngã vật trong dòng người cuộn thác” (Huế Tháng Tám). Một năm sau, đúng vào ngày Tết Độc lập thứ hai của dân tộc, trong niềm vui bất tận, Tố Hữu có bài thơ Vui bất tuyệt chiêm nghiệm về tầm vóc thời đại của dân tộc trong cảm hứng tự hào: “Ta đi dưới bốn nghìn năm lịch sử/Đêm nay tràn hoa đỏ nhụy vàng tươi/Ta đi đây với thế kỷ hai mươi/Mạch suối trẻ trong dòng người vô địch”.

Từ sau năm 1945, cảm hứng về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9 vẫn luôn được kế tiếp. Sau độ lùi thời gian, những vần thơ về Tết Độc lập những năm trở lại đây mang nhiều sắc thái hơn. Vẫn là niềm tự hào, kiêu hãnh về ngày Quốc khánh thiêng liêng nhưng trong thơ còn có những sự chiêm nghiệm mới với giọng thơ có phần sâu lắng hơn. Đặc biệt, bên cạnh niềm vui ngày Độc lập, hình tượng Hồ Chủ tịch, vị Cha già của dân tộc cũng được khắc họa bằng những vần thơ thật đẹp.

Nhớ về ngày 2-9 đầu tiên, ta lại nhớ về Bác Hồ, nhớ đến công ơn trời bể của Người đối với dân tộc Việt Nam. An Nguyên thể hiện tình cảm ấy một cách đơn sơ mà đằm thắm của những câu thơ lục bát lắng sâu: “Hôm nay cả nước vui hơn/Mừng ngày Quốc khánh nhớ ơn Bác Hồ” (Mừng Quốc khánh).

Hình ảnh Bác Hồ giản dị mà trang nghiêm trong buổi lễ đọc Tuyên ngôn lịch sử năm xưa cũng được Thanh Đạm tái hiện lại một cách trang trọng trong một số bài thơ gần đây: “Lá cờ Tổ quốc bay cao/Mùng hai tháng Chín Bác chào toàn dân/Lời Bác như tiếng chuông ngân/Tuyên ngôn độc lập quốc dân đồng bào” (Bác Hồ).

Tự hào về lịch sử oai hùng của dân tộc là cảm hứng chủ đạo trong những bài thơ viết về ngày Quốc khánh. Ở đó, lịch sử nước nhà qua một mốc son trọng đại là ngày 2-9-1945 được thể hiện bằng những tình cảm trang trọng nhất. Đây là một trong những lý do khiến hầu hết các bài thơ viết về đề tài Quốc khánh đều chọn hình thức truyền thống. Chẳng hạn, trong bài Ngời trang lịch sử, Đức Chính đã chọn thể song thất lục bát để thể hiện cảm xúc của mình trong ngày Quốc khánh: “…Tuyên ngôn Bác đọc vang trời đất/Độc lập Người thề vọng núi sông/Tháng Tám chói ngời trang lịch sử/Ngàn năm xứng mãi với cha ông”.

Bảy mươi năm đã qua, nhưng cứ mỗi lần mùa thu về, trong ta lại ngập tràn nhiều cảm xúc. Ta sống lại những ngày mùa thu lịch sử năm xưa, nhớ lại cuộc kháng chiến trường kỳ gian khổ, nhớ về công ơn của Đảng và của Bác Hồ kính yêu, về sự hy sinh của những anh hùng liệt sỹ cho Việt Nam được tự do độc lập, cho cuộc sống thanh bình như hôm nay. Đọc lại những vần thơ viết về Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh 2-9, ta càng thêm tự hào về lịch sử dân tộc, về ngày tết Độc lập thiêng liêng của dân tộc ta.

Tư Hương

Theo báo Đắk lak

"Thời nay học sinh không cần phải học văn nhiều"

Bài thơ “Nắng Ba Đình” của nhà thơ Nguyễn Phan Hách là một bài thơ hay, đã được tuyển chọn dưa vào sách giáo khoa để giảng dạy; tuy nhiên việc “cắt gọt” những tác phẩm nguyên bản của tác giả  đưa vào sách làm cho bài thơ không còn nguyên chỉnh thể cũ và đương nhiên sẽ tạo ra những thay đổi nhất định về giá trị tư tưởng cũng như làm mất dungj ý nghệ thuật của người viết. Đây là câu chuyện thường xảy ra, mà trường hợp nhà thơ Nguyễn Phan Hách chỉ là một ví dụ. Chúng tôi xin đăng lại bài viết  của các tác giả Huy Thông - Yên Khương để giúp các bạn hiểu rõ hơn.

Đọc thêm...

Học văn ở Mỹ, tôi thực sự thấy mình là ‘trung tâm’

Không thể phủ nhận rằng cách học văn ở Mỹ thực sự "lấy người học là trung tâm" - như câu khẩu hiệu tôi vẫn nghe quen khi còn học ở Việt Nam.

Đọc thêm...

Nhà văn liệt sỹ: Nguyễn Thi

Nhà văn Nguyễn Thi đã từng bày tỏ quan điểm cầm bút viết văn của mình: Trước khi trở thành nhà văn, tôi đã là người lính, nếu gặp lúc gay go tôi có thể cho cây bút vào túi áo, tay cầm lấy súng và bóp cò. Tôi cần cái không khí của chiến dịch, những cái mà mắt tôi nhìn được, tai tôi nghe được. Trước sự kiện lịch sử trọng đại như thế này, nhà văn không thể đứng ngoài mà ngó...

Đọc thêm...

Tranh cãi về đề thi Ngữ văn: 2017

Kỳ thi THPT quốc gia 2017 đã khép lại, tuy nhiên vẫn có những bình luận đa chiều, cùng những băn khoăn về việc sử dụng từ 'thấu cảm' trong phần Đọc hiểu của đề thi Ngữ văn có thể làm khó thí sinh, làm mất sự trong sáng của tiếng Việt. Về vấn đề này, theo PGS-TS Phạm Văn Tình - Tổng thư ký Hội Ngôn ngữ học Việt Nam – chuyện chẳng có gì đáng bàn cãi, vì từ “thấu cảm” tuy lạ, ít sử dụng trong giao tiếp, nhưng nó đã xuất hiện trong từ điển tiếng Việt từ lâu.

Đọc thêm...

Thày Thìn - Nhà văn Trung Đỉnh

Ôi, tôi sướng rơn không thể nào tả nổi. Hồi ấy hình như tôi đang học lớp 9Đ và là học sinh kha khá văn của thầy. Tôi nhớ mãi có lần tôi được điểm 4 (ta theo thang điểm 5 của Liên Xô cũ). Tôi  phải ngoặc đơn chỗ này là, trong tất cả các môn học tôi chỉ chú tâm học môn văn và sử còn các môn tự nhiên toán lý hóa tôi học cầm chừng.

Đọc thêm...

Cảm nhận về thơ Nhà giáo Phạm Thìn - Tô Ngọc Thạch

Đó là những xúc cảm cách đây 50 năm, nhưng vẫn tươi roi rói như vừa mới hôm qua. Qua “THƠ NHÀ GIÁO PHẠM THÌN” ta có thể nhận thấy tác giả đã sử dụng khá nhiều thể loại thơ, nhưng theo tôi thì thể thơ 4 chữ và 5 chữ là tinh tế, ám ảnh, day trở nhất, có giá trị về cảnh quan thiên nhiên, về thân phận con người đặc biệt với ba “giọt máu” của mình với một giọng điệu bất ngờ:

Đọc thêm...

Từ bài thơ Nguyên tiêu đến Ngày thơ Việt Nam

Nguyên tiêu” là bài thơ xuân, thơ trăng hay nhất của Bác Hồ. Năm 2003, nhân dịp 55 năm nhà thơ Hồ Chí Minh làm bài thơ Nguyên tiêu, Hội Nhà văn Việt Nam đã đề nghị lấy ngày rằm tháng giêng hàng năm làm Ngày thơ Việt Nam. Đó là sự tôn vinh đối với bài thơ và nhà thơ Hồ Chí Minh đã để lại cho dân tộc một bài thơ bất tử, một xác nhận Nguyên tiêu là bài thơ tiêu biểu được làng thơ Việt Nam chính thức đưa lên đỉnh cao thơ ca dân tộc.

Đọc thêm...

Nhận diện đạo đức con người qua Tục ngữ và thơ ca dân gian – Khánh Yên

Đạo đức của con người luôn được mọi thời từ cổ tới kim đề cập tới. Ngày nay, đây cũng luôn là một vấn đề “nóng”. Để giúp mọi người thẩm định, đánh giá một cách chính xác về đạo đức con người, người viết xin được giới thiệu một vài kinh nghiệm của ông cha ta xưa xung quanh vấn đề này.

Đọc thêm...

Thày Bùi Văn Nguyên và nhập môn khoa học của đời tôi- PGSTS Bùi Quang Thanh

Hôm nay, bùi ngùi nhớ đến người Thầy kính mến của mình đã đi xa, ngồi viết những dòng chân quê này, tôi chắp tay rưng rưng hướng vào cõi xa xăm, những muốn trân trọng dâng lên người thày kính yêu năm xưa một nén tâm nhang thành kính !

Đọc thêm...

Văn học về chiến tranh – một phần tư liệu lịch sử của dân tộc – Phạm Thùy Linh

Những trang văn về chiến tranh luôn là đề tài quan tâm của nhiều người cầm bút và công chúng yêu văn học dù ở thời đại nào. Bởi đây chính là một phần tư liệu lịch sử ghi lại cuộc kháng chiến trường kỳ giải phóng dân tộc. Điều đáng tự hào hơn, những tư liệu lịch sử ấy không chỉ các nhà văn Việt muốn khai thác mà cả những nhà văn nước ngoài vẫn luôn muốn được góp một phần tư liệu viết về chiến tranh Việt Nam.

Đọc thêm...

Ký trên hành trình đổi mới - Đỗ Hải Ninh

Sự phát triển phong phú và đa dạng của các thể ký thời đổi mới là một minh chứng sinh động về tính dân chủ trong văn học. Với tư cách là một thể loại nhạy bén, ký có khả năng đáp ứng một cách cao nhất nhu cầu được biết, được nói sự thật- hệ quả tất yếu của trào lưu dân chủ. Khả năng đối thoại, đề xuất  những kiến giải riêng trên cơ sở trải nghiệm của cá nhân đã tạo nên chiều sâu nhận thức và sức hấp dẫn của thể loại. Đó cũng chính là những yếu tố quan trọng nhất tạo nên tính mở của ký trong thời đại bùng nổ thông tin hiện nay

Đọc thêm...

Xuân Quỳnh - cánh chuồn trong giông bão -Chu Văn Sơn

Thế giới thơ ca Xuân Quỳnh là sự tương tranh không ngừng giữa khắc nghiệt và yên lành với những biểu hiện sống động và biến hoá khôn cùng của chúng. Ở đó, trái tim thơ Xuân Quỳnh là cánh chuồn báo bão cứ chao đi chao về, mệt nhoài giữa biến động và yên định, bão tố và bình yên, chiến tranh và hòa bình, thác lũ và êm trôi, tình yêu và cách trở, ra đi và trở lại, chảy trôi phiêu dạt và trụ vững kiên gan, tổ ấm và dòng đời, sóng và bờ, thuyền và biển, nhà ga và con tàu, trời xanh và bom đạn, gió lào và cát trắng, cỏ dại và nắng lửa, thuỷ chung và trắc trở, xuân sắc và tàn phai, ngọn lửa cô đơn và đại ngàn tối sẫm...

Đọc thêm...

Cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác (Về trích đoạn vở "Hồn Trương Ba da hàng thịt" trong SGK lớp 12)

Trích đoạn Hồn Trương Ba da hàng thịt đưa vào dạy trong SGK Ngữ văn lớp 12 là một phần thuộc Cảnh VII – cũng là cảnh cuối cùng của vở kịch, được đặt tên là Thoát ra nghịch cảnh(2). Trọng tâm của lớp kịch là cuộc đối thoại giữa Hồn và Xác Trương Ba.

Đọc thêm...

Vài nét về chương trình Ngữ văn ở Đại học Nhật Bản

"Văn học và Ngôn ngữ Nhật Bản là ngành học tìm hiểu bản chất của văn học nghệ thuật thông qua tác phẩm văn học viết bằng tiếng Nhật từ xưa đến nay. Đó cũng là quá trình tìm lời giải đáp cho câu hỏi: Con người là gì? Xã hội là gì? Con người và xã hội đã tồn tại như thế nào qua các thời ký ấy?

Đọc thêm...

Tình huống thú vị và thi vị khiến bài thơ “Tiếng Việt” vĩnh viễn được trả lại đúng nguyên gốc- Nguyễn Đình Minh

Gần 40 năm trôi qua,“Tiếng Việt” lại lên tiếng trong một tình huống đầy thú vị và thi vị giữa một kỳ thi quốc gia của một bộ môn thuần văn chương. Và từ đây, “Tiếng Việt” sẽ vĩnh viễn được trả lại nguyên gốc với vẻ long lanh của nó.

Đọc thêm...

Bài văn hội ngộ Tấm Cám dưới âm phủ

Dẫu dì đã làm nhiều điều độc ác với Tấm, Tấm nghe vậy cũng không khỏi xót xa! Đúng là không gì qua được mắt thần linh, tội lỗi dù sớm muộn đều bị trừng trị. Nghĩ đến đây, Tấm nhìn lại mình, bàn tay Tấm cũng từng rót nước sôi giết Cám, bàn tay Tấm cùng từng gửi hũ mắm đến cho Dì, khiến dì chết vì kinh sợ, bàn tay ấy đã từng làm điều xấu, từng giết người!

Đọc thêm...

Hai loại ánh sáng trong truyện ngắn "Hai đứa trẻ" của Thạch Lam -Lưu Thế Quyền

Không gian bóng đêm tẻ nhạt, lúc nào cũng dắt bên mình một vũ điệu " bài ca không quên" trôi dài theo năm tháng. Vũ điệu ấy cứ tô thêm cho mình ngọn đèn lay lắt , hiu hắt, nhỏ bé ... như chứa đựng tâm trạng của mọi người trong tạo hóa. Bóng đêm bao vây và tiếng tàu lại vang lên cùng với ánh sáng rạng rỡ, huy hoàng càng xé nát mảnh trời nhung đen.

Đọc thêm...

Tiếp cận truyện ngắn "Rừng xà nu" từ góc độ loại hình sử thi – Phạm Thị Ngọc Hoa

Nền văn học Việt Nam 1945 – 1975 là một nền văn học sử thi. Cảm hứng anh hùng ca (sử thi) xuất hiện trong hầu hết các sáng tác văn xuôi thuộc giai đoạn này. Nhưng có lẽ, tác phẩm thể hiện đầy đủ nhất và sinh động nhất tính chất sử thi của nền văn xuôi cách mạng là truyện ngắn “Rừng xà nu” của Nguyên Ngọc.

Đọc thêm...

Ngày 30 tháng 4 – thơ Nguyễn Đức Mậu

Nguyễn Đức Mậu có nhiều tập thơ, truyện ký, phê bình… và trong sự nghiệp sáng tác của mình, ông đạt nhiều giải thưởng cao quý, trong đó có 02 giải thưởng lớn là Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2001; Giải thưởng văn học Asean năm 2001. Nhân kỷ niệm 41 năm ngày giải phóng miền Nam thống nhất đất nước, chúng tôi xin giới thiệu chùm thơ của ông.

Đọc thêm...

Quan niệm nhân sinh trong “Hồng lâu mộng” – Đinh Phan Cẩm Vân

Hồng lâu mộng là tiểu thuyết cổ điển vĩ đại nhất của Trung Hoa. Nó đã được học giả cả ở Trung Quốc lẫn nước ngòai nghiên cứu và tái nghiên cứu suốt hai thế kỷ”(2, tr84). Tiếp cận từ phương diện nào, tác phẩm cũng mở ra những chân trời ý nghĩa mới lạ. Nếu như quan niệm nhân sinh của nhà triết học thường được phát biểu dưới hình thức luận đề thì ở các nhà văn lại được biểu hiện thông qua thế giới nghệ thuật vô cùng phong phú.

Đọc thêm...

Nguyễn Minh Châu và thi pháp “gói rào” trong Chiếc thuyền ngoài xa - Chu Văn Sơn

Mỗi thể loại nghệ thuật là một ngôn ngữ. Dấn thân vào một thể loại thực chất là nỗ lực không ngừng để làm chủ thứ ngôn ngữ ấy. Kẻ viết thường phải qua những trải nghiệm sáng tạo lâu dài, thậm chí sinh tử, mới có thể nói được tiếng nói của nó. Muốn gói rào, càng phải lão luyện tiếng nói này. Còn người đọc, chừng nào nghe được tiếng nói riêng đó, chừng ấy mới có thể xem là đã đọc được nó

Đọc thêm...

Phác thảo bức tranh thời sự văn học – Ngô Văn Giá

Trong quá trình dạy học bộ môn Văn học hiện nay ở THPT, chúng ta chỉ mới chú tâm vào các tác phẩm quy định trong nhà trường, và coi đó như một “bầu trời đóng khung”, bầu trời văn chương của sách giáo khoa. Việc cập nhật sách giáo khoa ở Việt Nam không được thực hiện hàng năm như ở nước ngoài, bởi thế dòng chảy văn chương đương đại cứ lặng lẽ trôi qua trước các cổng trường…

Đọc thêm...

Giới thiệu tập sách “Câu đố về lịch sử” bằng thơ

Nhà Xuất bản Kim Đồng vừa cho ra mắt tập sách “Câu đố về lịch sử” bằng thơ của nhà thơ Nguyễn Hông Văn- Hội viên Hội Nhà văn Hải Phòng. Tập sách được phát hành bằng nguồn kinh phí của Nhà nước tài trợ cho thiếu nhi (Sách 44 trang, khổ 14,5 x 20,5; số lượng in: 22.952 bản).

Sách không bán, mà cho các cháu học sinh các trường Tiểu học miền núi, vùng sâu, vùng xa trong cả nước. Như vậy, trong hơn 12 tháng (11.2014- 1.2016) tập sách đã được phát hành hai lần của hai NXB với tổng số lượng in gần 10 vạn bản (70.500 bản + 22.952 bản). Đây là một kết quả sau 3 năm lao động miệt mài của nhà thơ Nguyễn Hồng Văn tìm cách chuyển tải lịch sử nước nhà đến với các cháu nhỏ, giúp các cháu: dễ hiểu, nhanh thuộc, nhớ lâu và tiết kiệm thời gian học tập. Vanhaiphong xin chúc mừng và chia vui cùng nhà thơ Nguyễn Hồng Văn.

MT

Xuân trong Thơ Mới 1932-1945 -Nguyễn Thanh Tâm

Thơ mới mang những sắc thái khác biệt, không trùng lặp, không phổ biến, không có tính quy luật trong các loại hình thơ trước và sau nó. Trong rất nhiều tiêu chí đã được đề cập, ở bài viết này, chúng tôi tập trung vào cảm thức “Xuân” như là một ý niệm, một tri thức của loại hình. Xuân ở đây không chỉ là mùa (thời gian tự nhiên, vật lý), nó còn hàm nghĩa những giá trị thuộc về bản sắc cá thể, về cuộc đời, về giá trị quan, thẩm mỹ quan của con người cá nhân tư sản trong môi trường đô thị kiểu phương Tây thời Thơ mới.

Đọc thêm...

Khái niệm ngôn ngữ của nghệ thuật ngôn từ - Iu.Lotman

Là một dạng giao tiếp đại chúng, văn học nghệ thuật có ngôn ngữ riêng. “Có ngôn ngữ riêng” tức là có riêng một tập hợp những đơn vị biểu nghĩa và luật lệ nào đó để nối kết chúng lại, cho phép truyền đạt một số thông tin nhất định.

Đọc thêm...

Các bài viết khác...
Công cụ Tìm Kiếm..

TIN MỚI ĐĂNG

Hình ảnh
James Joyce (1882-1941) là một tác giả nổi tiếng người Ái-Nhĩ-Lan. Người ta...
Hình ảnh
Lara sống đã hơn ba năm ở gia đình Kologrivov như sau một luỹ đá che chở:...
Hình ảnh
Bà nội đã ngoại bẩy mươi! Điều đó thấy rõ trước hết là việc bà không...
Hình ảnh
Trong chiếc áo vét tông dài, đôi ủng nam, đôi bàn tay chai sần, khiến ta liên...
Hình ảnh
Thêm một mùa cải vàng bên bờ sông nở rộ. phố đông hơn vào ngày ai đó đều...
Hình ảnh
Sáng hôm sau, Toàn đến. Toàn bảo sáng mai mới mượn được xe đạp đưa tôi ...
Hình ảnh
Sáng 10/7 tại Trung tâm Văn hóa huyện Kiến Thụy, CLB Thơ Dương Kinh đã tổ chức...
Hình ảnh
Bé thôi cười, mi chau Tay sờ then khe khẽ Đột ngột nâng cửa cao Cho mày bay...
Hình ảnh
Bác Macken, người chuyên lo quét dọn sân xướng và canh cổng, được chủ trao...

THỐNG KÊ TRUY CẬP

mod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_countermod_vvisit_counter
mod_vvisit_counterHôm nay599
mod_vvisit_counterHôm qua3491
mod_vvisit_counterTất cả10381300
Hiện có 238 khách Trực tuyến